Quy định mới về quản lý người tham gia bán hàng đa cấp
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 137/2026/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp; trong đó đã quy định rõ hơn về quản lý người tham gia bán hàng đa cấp (BHĐC).
Theo đó, Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định về đăng ký hoạt động BHĐC, quản lý hoạt động BHĐC tại địa phương, quản lý người tham gia BHĐC, hoạt động BHĐC, ký quỹ và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Cụ thể, về quản lý người tham gia BHĐC, Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định người tham gia BHĐC phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và cư trú tại Việt Nam.
Đáng chú ý, Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định, doanh nghiệp BHĐC không ký hợp đồng tham gia BHĐC với những người thuộc các trường hợp sau:
Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Người nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp gắn với doanh nghiệp mà người đó tham gia BHĐC, trừ trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật.
Người tham gia BHĐC đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định tại điểm b, d, e, g khoản 1; điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Điều 5 Nghị định 137/2026/NĐ-CP mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Ngoài ra, Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định đối với các cá nhân từng giữ vai trò tại doanh nghiệp BHĐC đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC hoặc giấy đăng ký tổ chức BHĐC cũng thuộc trường hợp không được ký hợp đồng tham gia BHĐC.
Các chức danh bị loại trừ gồm: Thành viên đối với công ty hợp danh, chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, cổ đông đối với công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật, người quản lý doanh nghiệp.
Đồng thời, Nghị định 137/2026/NĐ-CP cũng mở rộng nhóm đối tượng không được tham gia BHĐC là cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
Về đào tạo cơ bản cho người tham gia BHĐC, Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định, doanh nghiệp BHĐC có trách nhiệm đào tạo cơ bản cho người tham gia BHĐC trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng tham gia BHĐC và không được thu phí dưới bất kỳ hình thức nào.
Người tham gia BHĐC có trách nhiệm tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng tham gia BHĐC.
Nghị định 137/2026/NĐ-CP nêu rõ, chỉ những người được doanh nghiệp BHĐC chỉ định làm đào tạo viên mới được thực hiện đào tạo cơ bản cho người tham gia BHĐC của doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp BHĐC không thực hiện đào tạo cơ bản cho người tham gia khi không có đào tạo viên đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định 137/2026/NĐ-CP.
Chương trình đào tạo cơ bản có thể được thực hiện thông qua 2 phương thức trực tiếp hoặc từ xa.
Theo đó, đối với phương thức đào tạo từ xa, hệ thống đào tạo phải bảo đảm cung cấp thông tin về đào tạo viên; khả năng tương tác giữa học viên với đào tạo viên; có cơ chế xác thực định danh học viên từ khi đăng nhập hệ thống đào tạo và duy trì trong suốt thời lượng đào tạo cơ bản.
Ngoài ra, phải ghi nhận và lưu trữ toàn bộ nhật ký học tập của học viên, bao gồm: thời gian đăng nhập, đăng xuất; thời lượng và tiến độ hoàn thành từng học phần; nội dung tương tác và kết quả kiểm tra đánh giá.
Bảo đảm các dữ liệu của chương trình đào tạo cơ bản có khả năng truy xuất để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Doanh nghiệp BHĐC có trách nhiệm đánh giá mức độ hoàn thành chương trình đào tạo cơ bản của người tham gia BHĐC và cấp xác nhận bằng văn bản cho từng người tham gia về việc hoàn thành nội dung và thời lượng chương trình đào tạo cơ bản của người tham gia BHĐC, bảo đảm học viên nhận được văn bản xác nhận.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp BHĐC có trách nhiệm lưu trữ các tài liệu liên quan đến hoạt động đào tạo cơ bản cho người tham gia BHĐC, bao gồm thời gian, cách thức, địa điểm (nếu có), đào tạo viên và kết quả đào tạo.
Khi có thay đổi liên quan tới nội dung quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp BHĐC có trách nhiệm đào tạo bổ sung hoặc thông báo cho người tham gia BHĐC qua trang thông tin điện tử hoặc niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi.
Nghị định 137/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.











