Quy định riêng về công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp
Đối với những công trình biên giới cần triển khai trong điều kiện khẩn cấp, cấp bách, việc đầu tư và xây dựng được thực hiện theo pháp luật về đầu tư công, xây dựng, đồng thời xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đánh giá tính cấp bách của từng nhóm công trình...

Ảnh minh họa: Thanh Xuân
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 340/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia. Nghị định tập trung làm rõ những nhóm công trình biên giới, trình tự đầu tư, xây dựng và quy định cách xử lý đối với trường hợp đặc thù.
LÀM RÕ CÁC NHÓM CÔNG TRÌNH BIÊN GIỚI
Các quy định pháp luật liên quan đến quản lý, đầu tư và xây dựng công trình đang từng bước được rà soát, hoàn thiện, nhằm làm rõ phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình tổ chức thực hiện.
Nghị định số 340/2026/NĐ-CP đã bổ sung Điều 8a vào sau Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP quy định về công trình biên giới. Theo quy định mới, công trình cố định đường biên giới quốc gia là các công trình xây dựng, bao gồm: Kè gia cố, bảo vệ mốc quốc giới, cọc dấu biên giới, vật đánh dấu, dấu hiệu nhận biết đường biên giới; kè gia cố, bảo vệ bờ sông, suối biên giới, sống núi biên giới; công trình khác nhằm đảm bảo tính nguyên trạng, sự ổn định của đường biên giới quốc gia.
Bên cạnh đó, công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là các công trình được xây dựng hoàn toàn, hoặc có một phần nằm trong khu vực biên giới, cửa khẩu, gồm: Hàng rào, tường rào biên giới; công trình đường bộ, cầu, đường sắt, đường tuần tra biên giới, đường ra các mốc quốc giới, đài quan sát biên giới, cầu cảng, bến cảng, bãi đỗ phương tiện phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; công trình phòng thủ biên giới, công trình phòng, chống dịch bệnh, khắc phục thiên tai, cứu hộ, cứu nạn khẩn cấp và các công trình khác nhằm phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Các quy định này nhằm đảm bảo tính nguyên trạng, sự ổn định của đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới để phù hợp với các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biên giới, mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thống nhất, đồng bộ với hệ thống văn bản pháp luật liên quan và đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Cùng với việc làm rõ nhóm công trình biên giới, Nghị định số 340/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 9 Nghị định số140/2004/NĐ-CP về đầu tư, xây dựng công trình biên giới theo hướng quy định cụ thể quy trình thẩm định kế hoạch trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định đầu tư, triển khai xây dựng các công trình đường biên giới, cơ quan chủ trì thẩm định kế hoạch.
Theo đó, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh nơi có biên giới quốc gia có dự án đầu tư, xây dựng công trình biên giới (cơ quan chủ quản) có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền tổ chức đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình.
Cụ thể, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan tổ chức khảo sát thực địa để đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình cố định đường biên giới quốc gia.
Cơ quan chủ quản chủ trì lấy ý kiến Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan để đánh giá sự cần thiết xây dựng công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ quan chủ quản lập kế hoạch xây dựng công trình biên giới theo quy định tại Điều 26 Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11, và lấy ý kiến bằng văn bản của cơ quan khác có liên quan trước khi trình Chính phủ quyết định, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời cơ quan gửi lấy ý kiến.
Căn cứ Nghị quyết của Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xây dựng công trình biên giới, cơ quan chủ quản triển khai trình tự, thủ tục đầu tư, xây dựng công trình biên giới theo quy định của pháp luật hiện hành.
TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP ĐỐI VỚI DỰ ÁN TRONG VÀNH ĐAI BIÊN GIỚI
Ngoài nội dung trên, Nghị định số 340/2026/NĐ-CP còn quy định một số vấn đề liên quan đến đầu tư, xây dựng công trình. Nghị định đã bổ sung Điều 9a, Điều 9b vào sau Điều 9 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP.
Trong đó, Điều 9a quy định về đầu tư, xây dựng công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách, đặc biệt. Cụ thể, dự án đầu tư, xây dựng công trình biên giới trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách, đặc biệt được thực hiện theo pháp luật về đầu tư công và pháp luật về xây dựng.
Việc đánh giá tính cấp bách, đối với công trình cố định đường biên giới quốc gia do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan thực hiện; đối với công trình phục vụ hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia do cơ quan chủ quản chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và bộ, ngành liên quan thực hiện.
Tại Điều 9b quy định về xây dựng các dự án, công trình trong vành đai biên giới nhưng không phải công trình biên giới, thì Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh có dự án, công trình trong vành đai biên giới nhưng không phải công trình biên giới, phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời cơ quan gửi lấy ý kiến.
Khi triển khai thực hiện dự án, công trình, chủ đầu tư cần thông báo bằng văn bản về ngày triển khai dự án, khởi công xây dựng cho Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Công an cấp tỉnh và chính quyền địa phương sở tại trước thời điểm triển khai dự án hoặc khởi công xây dựng công trình ít nhất 3 ngày làm việc.
Về thời điểm áp dụng, Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 16/10/2026. Việc xây dựng các dự án, công trình trong vành đai biên giới, cửa khẩu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị định số 340/2026/NĐ-CP có hiệu lực, sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 34/2014/NĐ-CP.


