Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương giới thiệu chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Ảnh: Phương Hoa – TTXVN

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương giới thiệu chuyên đề “Về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”. Ảnh: Phương Hoa – TTXVN

Được sự phân công của BTC Hội nghị, tôi xin báo cáo những nội dung cốt lõi của Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng, thể hiện bước đổi mới trong tư duy của Đảng đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, vừa phát huy nguồn lực của đội ngũ đảng viên cho phát triển kinh tế, vừa tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát xung đột lợi ích và phòng ngừa việc lợi dụng quyền lực để trục lợi.

Nội dung báo cáo tập trung vào ba vấn đề lớn: (1) Bối cảnh và sự cần thiết ban hành Quy định; (2) Những tư duy mới và nội dung của Quy định; và (3) Tổ chức thực hiện.

Nội dung thứ I: BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH

Cách đây 20 năm, ngày 28/8/2006, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Quy định số 15-QĐ/TW về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng, thể hiện sự thừa nhận và cho phép đảng viên tham gia phát triển kinh tế tư nhân.

Qua 20 năm thực hiện, Quy định số 15-QĐ/TW đã đạt được những kết quả tích cực. Số đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần, lên 187 nghìn người năm 2026. Nhiều đảng viên là doanh nhân, chủ doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp đã đóng góp thiết thực vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và công tác an sinh xã hội.

Những kết quả đó khẳng định tính đúng đắn của chủ trương, đồng thời tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục đổi mới quy định của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, mức độ tham gia của đảng viên vào hoạt động, phát triển kinh tế tư nhân vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, nguồn lực và kỳ vọng. Trong tổng số hơn 5,6 triệu đảng viên, tỷ lệ đảng viên tham gia làm kinh tế tư nhân chỉ chiếm khoảng 3,31%. Đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân chiếm 0,15% tổng số đảng viên toàn Đảng.

Nguyên nhân chủ yếu là Quy định số 15-QĐ/TW được xây dựng trong bối cảnh trước đây, chủ yếu điều chỉnh đảng viên ngoài khu vực công; một số quyền, giới hạn và trách nhiệm chưa được xác định đầy đủ theo địa vị pháp lý, chức danh, vị trí công tác và nguy cơ xung đột lợi ích. Việc quản lý chủ yếu dựa trên hình thức đứng tên, chưa bao quát đầy đủ quyền sở hữu, quyền chi phối, quyền quản lý, điều hành và lợi ích thực tế. Cơ chế nhận diện, báo cáo, kiểm soát và xử lý xung đột lợi ích chưa được quy định đồng bộ.

Trong khi đó, khu vực công có lực lượng đảng viên rất lớn (đảng viên là cán bộ, công chức chiếm trên 98% tổng số cán bộ, công chức; đảng viên là viên chức chiếm trên 85% số viên chức; đảng viên là viên chức trong khu vực công lập chiếm 20,8% tổng số đảng viên). Vì vậy, nếu chỉ điều chỉnh hoạt động kinh tế tư nhân của đảng viên ngoài khu vực công thì chưa đáp ứng yêu cầu phát huy nguồn lực của toàn Đảng, cũng như yêu cầu quản lý phù hợp đối với từng nhóm đảng viên.

Mặt khác, Đảng ta xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất” trong Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị. Để thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước theo Nghị quyết 19 của BCHTW và các mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế tư nhân phải có những bước phát triển mạnh mẽ, đột phá hơn nữa và cần khơi thông mọi nguồn lực xã hội, cùng với phát huy năng lực quản trị, tri thức, kinh nghiệm, vốn và tinh thần đổi mới sáng tạo.

Từ yêu cầu đó, trên cơ sở bám sát Điều lệ Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, làm rõ lý luận, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh thay thế Quy định số 15-QĐ/TW, với phạm vi, nội hàm rộng hơn, bám sát thực tiễn và phù hợp thông lệ quốc tế.

(Điểm chuyển biến căn bản là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ “đảng viên làm kinh tế tư nhân” sang “đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh”, đồng thời chuyển từ quản lý theo hình thức sang quản lý theo bản chất hoạt động, quyền kiểm soát, lợi ích thực tế và nguy cơ xung đột lợi ích).

Nội dung thứ II: NHỮNG TƯ DUY MỚI VÀ NỘI DUNG ĐỔI MỚI CƠ BẢN CỦA QUY ĐỊNH

1. Đổi mới tư duy: khuyến khích, tạo điều kiện đi đôi với kiểm soát

Quy định số 224-QĐ/TW được xây dựng trên 5 quan điểm chỉ đạo lớn:

- Một là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong phát triển kinh tế.

Đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của gia cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; không chỉ tiên phong trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà còn phải có trách nhiệm tiên phong, gương mẫu trong phát huy năng lực lao động, sản xuất, kinh doanh, làm giàu hợp pháp, chính đáng, có trách nhiệm với xã hội và đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ đó, tư duy quản lý chuyển từ chủ yếu xem xét “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên phát huy năng lực và nguồn lực hợp pháp; đồng thời, mở rộng sự tham gia của một số nhóm đảng viên trong khu vực công theo những điều kiện cụ thể.

- Hai là, chuyển từ tư duy quản lý chủ yếu theo danh mục “được làm, không được làm” sang cơ chế ba mức: “được làm; được làm có điều kiện, có kiểm soát; và không được làm” gắn với kiểm soát xung đột lợi ích.

Không áp dụng một giới hạn chung cho mọi đảng viên, mà xác định quyền tham gia theo địa vị pháp lý, chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ và mức độ rủi ro xung đột lợi ích.

- Ba là, chuyển trọng tâm kiểm soát từ hình thức đứng tên sang kiểm soát căn cứ quyền sở hữu, quyền chi phối và lợi ích thực tế.

Việc đánh giá không chỉ căn cứ người đứng tên trên giấy tờ, mà phải làm rõ ai thực sự quyết định, kiểm soát, quản lý, điều hành và hưởng lợi từ hoạt động đầu tư, kinh doanh. Bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng. Xung đột lợi ích phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền, không dừng ở kê khai.

- Bốn là, gắn phát huy vai trò đảng viên trong phát triển kinh tế với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật và bản chất của Đảng.

Đảng viên được mở rộng quyền đầu tư, kinh doanh phải giữ gìn đạo đức, trách nhiệm nêu gương, liêm chính công vụ; không lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ, quyền hạn hoặc nguồn lực công để phục vụ lợi ích riêng. Phải gắn phát huy vai trò đảng viên trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng; trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh không làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của Đảng; xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước.

- Năm là, bảo đảm đồng bộ giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có quy định chuyển tiếp phù hợp.

(Việc chấp thuận trong nội bộ Đảng không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo pháp luật. Đồng thời, không được tự đặt thêm những rào cản, thủ tục ngoài quy định để hạn chế quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp của đảng viên).

2. Những nội dung cơ bản của Quy định

Quy định gồm 3 chương, 14 điều. Trên cơ sở các nội dung Quy định này, Ban Bí thư sẽ hướng dẫn cụ thể để thống nhất triển khai thực hiện; Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội sẽ lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa quy định này.

Quy định này xác định hoạt động đầu tư, kinh doanh theo nghĩa rộng, bao gồm góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, thành lập tổ chức kinh tế, thực hiện dự án đầu tư, hợp đồng đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua bán, nắm giữ chứng khoán và các hình thức đầu tư, kinh doanh khác theo pháp luật.

2.1 Nguyên tắc chung:

Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh phải đảm bảo 05 nguyên tắc quy định tại Điều 2, cụ thể:

(i) Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh theo Quy định này và quy định của pháp luật; tuân thủ những điều đảng viên không được làm; gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động, người tiêu dùng; giữ gìn đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh, thực hành kinh doanh có trách nhiệm;

(ii) Quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được bảo vệ theo quy định của pháp luật. Cấp uỷ, tổ chức đảng không đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp của đảng viên ngoài những điều kiện, thủ tục quy định tại Quy định này và hướng dẫn của Ban Bí thư;

(iii) Quyền, giới hạn và thực hiện kiểm soát xung đột lợi ích áp dụng theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ, nhóm đối tượng, bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định;

(iv) Đảng viên trong khu vực công không được sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích; không được đầu tư kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý; không được để hoạt động đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao;

(v) Việc chấp thuận đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh do cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ. Chấp thuận theo Quy định này là yêu cầu trong nội bộ Đảng, không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

2.2 Phân loại hoạt động đầu tư, kinh doanh

Quy định đã phân loại hoạt động đầu tư, kinh doanh thành bốn nhóm:

- Thứ nhất, hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập.

- Thứ hai, đầu tư, kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý hoặc điều hành.

- Thứ ba, đầu tư, kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có quyền chi phối nhưng không quản lý, điều hành.

- Thứ tư, đầu tư, kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có quyền chi phối.

Việc phân loại này là cơ sở xác định quyền và giới hạn tương ứng với từng nhóm đảng viên.

2.3. Quyền tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh theo từng nhóm đảng viên

Điểm đổi mới quan trọng của Quy định là xác định quyền, điều kiện và giới hạn theo từng nhóm đảng viên, thay vì áp dụng một cách tiếp cận đồng nhất. Cụ thể:

- Nhóm thứ nhất, đối với đảng viên ngoài khu vực công

Theo Điều 5, đảng viên ngoài khu vực công được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư, kinh doanh theo Quy định và những hoạt động đầu tư, kinh doanh khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng.

Tuy nhiên, nếu trường hợp được giao thực hiện nhiệm vụ công, đảng viên không được lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ trong Đảng hoặc quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tạo lợi thế bất bình đẳng, tác động trái quy định, phục vụ lợi ích riêng, lợi ích nhóm; không được xử lý công việc, nhiệm vụ có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát hoặc làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện nhiệm vụ công được giao.

Có cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng đảng viên ngoài khu vực công tiêu biểu tham gia khu vực công, gắn với kiểm soát xung đột lợi ích.

- Nhóm thứ hai, đối với đảng viên là cán bộ, công chức

Theo Điều 6 và Điều 7 Quy định, đối với đảng viên là cán bộ, công chức được thực hiện, không phải xin chấp thuận: hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành.

Đối với đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và không ở vị trí có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, Quy định mở rộng quyền được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Tuy nhiên, cán bộ, công chức đều không được tham gia quản lý, điều hành tổ chức kinh tế. Những cán bộ, công chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích và cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý phải tuân thủ các giới hạn chặt chẽ hơn, không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, giữ cổ phần chi phối và quản lý, điều hành.

So với Quy định số 15-QĐ/TW, quyền tham gia đầu tư, kinh doanh của đảng viên là cán bộ, công chức được mở rộng, nhưng không đồng nghĩa với việc được tự do tham gia mọi hình thức đầu tư. Việc xác định đúng chức danh, vị trí công tác và điều kiện chấp thuận có ý nghĩa quyết định.

- Nhóm thứ ba, đối với đảng viên là viên chức

Theo Điều 8, đảng viên là viên chức được thực hiện, không phải xin chấp thuận: hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành.

Riêng viên chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích còn được thực hiện đầu tư, kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành.

Điểm mới đáng chú ý là viên chức không giữ chức vụ quản lý, không ở vị trí có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh có quản lý, điều hành, kể cả thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối khi được chấp thuận, với điều kiện không ảnh hưởng đến chức trách, nhiệm vụ và chất lượng dịch vụ công.

Viên chức không giữ chức vụ quản lý còn có thể tạm thời rời vị trí công tác để đầu tư thành lập, chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế theo quy định.

Ngược lại, đối với đảng viên là viên chức ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích phải tuân thủ giới hạn chặt chẽ hơn, không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư cho phối và quản lý, điều hành.

Viên chức giữ chức vụ quản lý không được đồng thời quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được giao nhiệm vụ theo quy định pháp luật.

Đây là bước mở rộng đáng chú ý, tạo điều kiện phát huy tri thức, chuyên môn và năng lực đổi mới sáng tạo của viên chức. Quy định mới đã mở rộng quyền rất lớn cho viên chức, được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, trong khi Quy định số 15-QĐ/TW trước đây không được. Một số vị trí viên chức còn được quản lý, điều hành; được tạm rời vị trí công tác để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế.

- Nhóm thứ tư, đối với đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Theo Điều 9, đảng viên được thực hiện và không phải xin chấp thuận đối với hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập và đầu tư, kinh doanh nhưng không thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành.

Đối với những đảng viên không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích, Quy định mở rộng quyền đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc đầu tư chi phối nhưng không quản lý, điều hành sau khi được chấp thuận. Việc thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác, không phương hại đến quốc phòng, an ninh theo quy định.

Về quy định không được làm, Quy định nêu rõ: Đảng viên công tác tại vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích không được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối và quản lý, điều hành. Trong thời gian công tác, phục vụ, đảng viên không được quản lý, điều hành tổ chức kinh tế, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền phân công, giao nhiệm vụ.

Như vậy, việc mở rộng quyền cho đảng viên đang công tác trong lực lượng vũ trang phải được xem xét đồng thời với yêu cầu kỷ luật, bảo mật và nhiệm vụ đặc thù của lực lượng vũ trang.

- Nhóm thứ năm, đối với đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước.

Theo Điều 10, nhóm này được thực hiện hoạt động chuyên môn, khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư, kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, không chi phối, quản lý, điều hành; được mua, nhận, nắm giữ cổ phần, phần vốn góp và thực hiện quyền của cổ đông, thành viên tại doanh nghiệp do mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước theo quy định pháp luật.

Việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư chi phối, quản lý, điều hành chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Đặc biệt, không được đầu tư, kinh doanh trong ngành, lĩnh vực có lợi ích liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp nhà nước mà mình quản lý hoặc đại diện phần vốn nhà nước, trừ trường hợp được quy định.

Yêu cầu trọng tâm là phải tách bạch quyền, lợi ích cá nhân với chức trách quản lý, đại diện phần vốn nhà nước; không để quyền lực quản lý, thông tin nội bộ hoặc nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước trở thành lợi thế kinh doanh riêng.

- Nhóm thứ sáu, đối với đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu

Theo Điều 11, đảng viên sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu và không còn công tác trong khu vực công được thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư, kinh doanh theo quy định như đảng viên ngoài khu vực công, trừ các hoạt động bị hạn chế liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo quy định pháp luật.

Trường hợp thôi giữ chức vụ nhưng tiếp tục công tác trong khu vực công, đảng viên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm theo chức danh, vị trí công tác mới, đồng thời tuân thủ những hạn chế liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách.

Quy định này tạo điều kiện để đảng viên phát huy chuyên môn, kinh nghiệm, tri thức, năng lực quản lý và nguồn lực hợp pháp sau khi rời khu vực công, góp phần thúc đẩy khởi nghiệp, đầu tư, kinh doanh, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Qua sáu nhóm trên, có thể thấy nguyên tắc xuyên suốt là: mở rộng quyền phù hợp với điều kiện và mức độ rủi ro; giới hạn chặt chẽ hơn đối với vị trí gắn với quyền lực công, bí mật nhà nước và lợi ích của Nhà nước.

2.4. Yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm thực hiện

Kính thưa các đồng chí!

Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Quy định là cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích.

Điều 12 Quy định việc nhận diện, đánh giá xung đột lợi ích; trách nhiệm của đảng viên khi xung đột lợi ích phát sinh hoặc khi được phát hiện; trách nhiệm của cấp có thẩm quyền trong xem xét, quyết định biện pháp kiểm soát; và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong phối hợp, chia sẻ, sử dụng thông tin, dữ liệu, hồ sơ theo thẩm quyền.

Nội dung thứ III: VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Quy định giao Ban Bí thư hướng dẫn thực hiện thống nhất trong toàn Đảng; các ban Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Điều 14 quy định rõ về hiệu lực thi hành và các nội dung chuyển tiếp, nhằm bảo đảm tính kế thừa, ổn định và xử lý phù hợp các trường hợp đang tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Trong quá trình triển khai, cần đặc biệt lưu ý không tự đặt thêm thủ tục hạn chế quyền hợp pháp; không nhầm lẫn giữa chấp thuận của tổ chức đảng với điều kiện pháp lý; đồng thời phải hướng dẫn rõ các trường hợp nhiều chức danh, nhiều nhiệm vụ, các vị trí có nguy cơ cao và các trường hợp chuyển tiếp.

III. KẾT LUẬN

Quy định số 224-QĐ/TW là bước đổi mới quan trọng trong tư duy và phương thức quản lý của Đảng đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên.

Quy định mới không chỉ mở rộng quyền tham gia hoạt động kinh tế, mà còn ở việc xác lập một cơ chế quản lý phù hợp hơn với thực tiễn: quyền được phân định theo từng nhóm đảng viên; giới hạn được xác định theo chức danh, vị trí và nguy cơ xung đột lợi ích; việc kiểm soát dựa trên quyền chi phối, lợi ích thực tế và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ.

Để Quy định thực sự đi vào cuộc sống, cần tập trung vào ba yêu cầu.

- Thứ nhất, nhận thức đúng tinh thần đổi mới: khuyến khích đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng, phát huy năng lực và nguồn lực cho phát triển đất nước đồng thời giữ vững nguyên tắc, kỷ luật và bản chất của Đảng.

- Thứ hai, tổ chức thực hiện thống nhất, minh bạch, đúng thẩm quyền: xác định đúng nhóm đối tượng, đúng hoạt động, đúng điều kiện và bảo đảm đồng bộ giữa quy định của Đảng với pháp luật của Nhà nước.

- Thứ ba, kiểm soát xung đột lợi ích thực chất: kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ, quyền hạn, thông tin hoặc nguồn lực công để trục lợi; gắn mở rộng quyền với trách nhiệm nêu gương, đạo đức kinh doanh và liêm chính công vụ.

Thực hiện tốt Quy định số 224-QĐ/TW sẽ góp phần phát huy nguồn lực của đội ngũ đảng viên, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trên đây là những nội dung chủ yếu của chuyên đề về Quy định số 224-QĐ/TW, ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Xin kính chúc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng toàn thể các đồng chí đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/quy-dinh-so-224-qdtw-ngay-14102026-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-dang-vien-tham-gia-hoat-dong-dau-tu-kinh-doanh.htm