Quy định thời điểm quản lý người chấp hành án hình sự tại cộng đồng
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 231/2026/NĐ-CP quy định về quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026.
Theo đó, Nghị định số 231/2026/NĐ-CP áp dụng đối với người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện (gọi chung là người chấp hành án hình sự tại cộng đồng).
Các cơ quan, tổ chức chịu sự điều chỉnh bao gồm Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, UBND, Công an cấp xã, đơn vị quân đội và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Công an cấp xã tại Hà Nội chủ động nghiên cứu quy định mới, sẵn sàng triển khai Nghị định số 231/2026/NĐ-CP từ ngày 1-7-2026. Ảnh minh họa: Khánh Huy
Tại Điều 2 Nghị định số 231/2026/NĐ-CP, Chính phủ đã quy định chi tiết về thời điểm bắt đầu thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng từ ngày 1-7-2026.
Cụ thể, đối với người được hưởng án treo và người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội nhận được quyết định thi hành án của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Đối với người chấp hành án phạt cấm cư trú và quản chế, thời điểm này được tính từ ngày Công an cấp xã nhận được chứng nhận chấp hành xong án phạt tù của cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc hồ sơ thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh.
Đối với nhóm đối tượng chấp hành án phạt tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, thời gian bắt đầu tính từ ngày Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội nhận được quyết định thi hành án của Tòa án (đối với trường hợp hình phạt chính là phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ), chứng nhận chấp hành xong án phạt tù của cơ sở giam giữ phạm nhân (đối với trường hợp hình phạt chính là phạt tù) hoặc hồ sơ thi hành án của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Riêng với người được hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và tha tù trước thời hạn có điều kiện, thời điểm thực hiện tính từ ngày Công an cấp xã hoặc đơn vị quân đội nhận được quyết định của Tòa án hoặc hồ sơ thi hành quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Bên cạnh thời điểm bắt đầu, Điều 2 của Nghị định cũng xác định rõ các mốc kết thúc quản lý, giám sát, giáo dục. Trường hợp người chấp hành án chấp hành xong án phạt, thời điểm kết thúc được tính đến ngày chấp hành xong án phạt ghi trong chứng nhận chấp hành xong án phạt do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cấp.
Nếu người chấp hành án chết, thời gian tính đến ngày chết ghi trên giấy chứng tử hoặc biên bản, tài liệu khác làm căn cứ xác định người chấp hành án chết. Đối với trường hợp người chấp hành án phải đi chấp hành án phạt tù theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền, thời điểm kết thúc sẽ tính đến ngày đi chấp hành án.
Về tổ chức thực hiện, công tác quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng bao gồm các nội dung cốt lõi như: tiếp nhận, quản lý, cập nhập, bổ sung thông tin, tài liệu hồ sơ thi hành án, hồ sơ thi hành quyết định của người chấp hành án; tiếp nhận người chấp hành án; lập kế hoạch quản lý, giám sát, giáo dục; thực hiện nhận xét, báo cáo việc chấp hành án; kiểm điểm người chấp hành án vi phạm nghĩa vụ, vi phạm pháp luật; điểm danh, kiểm diện; quản lý, giám sát, giáo dục trong một số trường hợp đặc biệt và phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
Để triển khai các nội dung này, các cơ quan chức năng sẽ áp dụng các biện pháp gồm nghiên cứu, khai thác hồ sơ, tài liệu; tổ chức truyền thông, tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật; gặp, làm việc trực tiếp với người chấp hành án và áp dụng phương tiện kỹ thuật thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục.
Đáng chú ý, việc thực hiện toàn bộ các quy định trên từ ngày 1-7-2026 phải bảo đảm tuân thủ tuyệt đối 8 nguyên tắc thi hành án hình sự được quy định tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự 2025. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Quá trình thi hành án phải bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án; đồng thời kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác.
Luật cũng quy định nguyên tắc khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự. Đồng thời, công tác này phải bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự, tái hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật, kết hợp với việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động thi hành án hình sự.











