Quy định về hành vi gây lãng phí trong lĩnh vực đầu tư dự án và giải phóng mặt bằng
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các nghị định của Chính phủ có hiệu lực thi hành từ 1-7-2026 đã tạo thêm một khuôn khổ pháp lý đáng chú ý để nhận diện, xác định hậu quả và xử lý trách nhiệm đối với các hành vi gây lãng phí trong lĩnh vực đầu tư dự án và giải phóng mặt bằng.
Không chỉ thất thoát tiền mới là lãng phí
Theo quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí, các hành vi gây lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, đầu tư xây dựng, tài sản công và tài nguyên được nhận diện ở nhiều công đoạn khác nhau.
Đáng chú ý, pháp luật không chỉ hướng tới trường hợp làm thất thoát trực tiếp tiền ngân sách. Những quyết định đầu tư không phù hợp quy hoạch, không xác định được nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; quyết định đầu tư không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích; chậm giải ngân do nguyên nhân chủ quan; không quyết toán hoặc chậm quyết toán dự án... đều có thể trở thành những hành vi gây lãng phí theo quy định của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí hiện hành.

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí và các nghị định của Chính phủ đã đưa ra các quy định cụ thể về hành vi gây lãng phí trong đầu tư dự án và giải phóng mặt bằng. Ảnh minh hoạ: Thanh Tuấn
Điều này cho thấy, cách tiếp cận mới của pháp luật là nhìn nhận lãng phí như sự sử dụng không hiệu quả các nguồn lực của nhà nước, trong đó thời gian, đất đai, vốn đầu tư, tài sản công và cả chi phí xã hội của một dự án đều cần được xem xét.
Một điểm đặc biệt đáng chú ý đối với các dự án có thu hồi đất là quy định liên quan trực tiếp đến giải phóng mặt bằng.
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí quy định, hành vi giải phóng mặt bằng hoặc thực hiện dự án chậm so với tiến độ đã được phê duyệt do nguyên nhân chủ quan; thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng quy định gây lãng phí; hoặc thực hiện dự án, khởi công công trình trước khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đều thuộc nhóm hành vi cần được kiểm soát.
Nghị định 266/2026/NĐ-CP còn làm rõ hơn tiêu chí xác định hậu quả. Theo đó, đối với hành vi trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, một trong những hậu quả được xem xét là làm tăng tổng mức kinh phí giải phóng mặt bằng so với phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt do dự án chậm tiến độ xuất phát từ nguyên nhân chủ quan. Ngoài ra, đất để thực hiện dự án không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo pháp luật đất đai, cũng được đặt trong cơ chế xác định hậu quả lãng phí.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho rằng, một dự án kéo dài nhiều năm không đương nhiên đồng nghĩa với hành vi gây lãng phí. Vấn đề pháp lý quan trọng là phải xác định nguyên nhân chậm trễ có phải do chủ quan hay không, có hậu quả lãng phí cụ thể hay không và mối quan hệ giữa hành vi với hậu quả đó.
Giải phóng mặt bằng kéo dài có thể tạo ra chi phí kép
Trong thực tế, giải phóng mặt bằng thường là khâu phức tạp nhất của nhiều dự án. Nếu việc kiểm kê, xác định nguồn gốc đất, xác định loại đất, xác định tài sản trên đất hoặc lập phương án bồi thường, hỗ trợ không chính xác, hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người có đất bị thu hồi mà còn có thể tác động đến tiến độ và chi phí của cả dự án.
Luật sư Phạm Ngọc Thanh cho biết, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí đã xác định hành vi thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng quy định, gây lãng phí là một hành vi cần được phòng ngừa và xử lý.
Đáng chú ý, Nghị định 266/2026/NĐ-CP yêu cầu việc xác định một hành vi là gây lãng phí phải được đặt trong mối quan hệ giữa hành vi – nguyên nhân – hậu quả. Theo đó, việc xác định hành vi gây lãng phí phải được thể hiện trong kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra hoặc giải quyết tố cáo, trên cơ sở phân tích đầy đủ nguyên nhân khách quan, chủ quan và hậu quả lãng phí.
Không thể chỉ dựa vào việc một dự án bị chậm hoặc phát sinh chi phí để mặc nhiên kết luận đã có hành vi gây lãng phí. Cần làm rõ ai có trách nhiệm, trách nhiệm ở công đoạn nào, nguyên nhân nào dẫn tới hậu quả và thiệt hại thực tế được xác định ra sao.
Chuyên gia pháp lý cho hay, đất đai là một trong những nguồn lực được pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí đặc biệt quan tâm. Luật Tiết kiệm, chống lãng phí quy định các hành vi như giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng đối tượng, định mức, quy hoạch, kế hoạch; sử dụng đất không đúng mục đích, không hiệu quả; chậm đưa đất vào sử dụng; không sử dụng hết diện tích được giao... có thể thuộc nhóm hành vi gây lãng phí.
Đối với các dự án sử dụng đất, việc giải phóng mặt bằng kéo dài có thể tạo ra chi phí kép: Người dân bị hạn chế khả năng sử dụng, đầu tư trên đất trong thời gian chờ dự án, trong khi nhà nước và chủ đầu tư lại phải tiếp tục duy trì bộ máy, chi phí quản lý và có thể phát sinh thêm chi phí giải phóng mặt bằng.
Vì vậy, Nghị định 266/2026/NĐ-CP đặt ra một tiêu chí rất đáng chú ý là nếu dự án chậm do nguyên nhân chủ quan và làm tăng tổng mức kinh phí giải phóng mặt bằng so với phương án được phê duyệt thì đây có thể là hậu quả để xem xét trách nhiệm về lãng phí.
Theo luật sư Phạm Ngọc Thanh, một điểm đáng chú ý khác nằm ở Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định cụ thể việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Theo đó, tùy tính chất, mức độ, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và việc khắc phục hậu quả, cán bộ, công chức, viên chức có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật khác nhau. Nghị định này cũng quy định cơ chế xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường.
Đặc biệt, thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường phải là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền và có quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí; việc xác định phải dựa trên chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán và các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ.
