Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp đưa công nghệ vào thực tiễn
Để các ý tưởng đổi mới sáng tạo được chuyển hóa thành giải pháp ứng dụng trong thực tiễn, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia đang tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, triển khai nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới công nghệ gắn với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ bắt đầu từ bài toán thực tiễn của doanh nghiệp
Phát biểu tại Diễn đàn Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam 2026, TS. Chử Đức Hoàng - Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, muốn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, yếu tố đầu tiên là sự cam kết và định hướng của người đứng đầu doanh nghiệp. Tuy nhiên, tầm nhìn của lãnh đạo chỉ có thể tạo ra chuyển biến khi được cụ thể hóa bằng nguồn nhân lực, quy trình triển khai và cơ chế thử nghiệm phù hợp.
Trong đó, con người giữ vai trò trực tiếp đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hay tiếp cận các nguồn thông tin, tài liệu bên ngoài không thể thay thế hoàn toàn năng lực tổ chức và thực hiện của doanh nghiệp.

TS. Chử Đức Hoàng - Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) phát biểu tại Diễn đàn Văn hóa Doanh nghiệp Việt Nam 2026 về các cơ chế hỗ trợ tài chính thúc đẩy nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ trong doanh nghiệp.
Đặc biệt, TS. Chử Đức Hoàng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế thử nghiệm, cho phép doanh nghiệp kiểm chứng những ý tưởng và giải pháp mới trong thực tiễn. Quá trình này có thể phát sinh sai sót, đòi hỏi doanh nghiệp chấp nhận điều chỉnh, cải tiến thay vì đặt ra yêu cầu mọi giải pháp phải hoàn thiện ngay từ đầu.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa hoạt động đổi mới sáng tạo với việc áp dụng những quy trình sản xuất, kinh doanh đã được chuẩn hóa. Nếu chỉ duy trì cách làm hiện có và không tạo điều kiện cho thử nghiệm, doanh nghiệp khó hình thành được những giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ mới.
Tuy nhiên, thử nghiệm ứng dụng khoa học công nghệ luôn cần nguồn lực, từ đội ngũ chuyên môn, dữ liệu đến kinh phí nghiên cứu và đầu tư thiết bị. Vì vậy, bên cạnh năng lực nội tại của doanh nghiệp, cơ chế hỗ trợ tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện để các ý tưởng đổi mới sáng tạo được triển khai.
Khơi thông nguồn lực tài chính cho nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ
Theo TS. Chử Đức Hoàng, hệ thống chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang tạo cơ sở để triển khai nhiều hình thức hỗ trợ doanh nghiệp.
Trong đó, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các văn bản hướng dẫn đã xác lập cơ sở pháp lý cho việc thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khuyến khích hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Nghị định số 77/2026/NĐ-CP ngày 17/3/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, tạo cơ sở để Quỹ triển khai các hình thức tài trợ, đặt hàng và hỗ trợ cho hoạt động đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ.
Theo TS. Chử Đức Hoàng, Quỹ đang triển khai các nhóm hoạt động hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trong đó có tài trợ nghiên cứu, đổi mới công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển tài sản trí tuệ, hỗ trợ lãi suất vay và hỗ trợ thông qua phiếu hỗ trợ tài chính (voucher).
Các hình thức này hướng đến những nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ. Nếu hoạt động nghiên cứu cần kinh phí để phát triển giải pháp, thì giai đoạn ứng dụng và mở rộng sản xuất lại đòi hỏi nguồn vốn đầu tư. Trong khi đó, việc thử nghiệm hoặc đưa sản phẩm, dịch vụ mới ra thị trường cần có những cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc thù của hoạt động đổi mới sáng tạo.

Ứng dụng công nghệ cao và tự động hóa trong sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. (Ảnh minh họa: Dây chuyền sản xuất tại nhà máy VinFast)
Bên cạnh nguồn lực từ Quỹ, doanh nghiệp còn có thể tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế và cơ chế trích lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ tại doanh nghiệp.
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế hằng năm để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế có thể được tính bằng 200% chi phí thực tế theo quy định pháp luật.
Những cơ chế này góp phần tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp chủ động đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ, đồng thời giảm bớt áp lực tài chính trong quá trình triển khai các hoạt động đổi mới sáng tạo.
Đối với các dự án đầu tư có nội dung chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia cũng triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất vay. Đây là một trong những giải pháp giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phục vụ đầu tư công nghệ thông qua hệ thống tài chính.
Liên quan đến định hướng hỗ trợ công nghệ mới, TS. Chử Đức Hoàng thông tin, Quỹ đang tiếp nhận các đề xuất và dự kiến hỗ trợ một số nhiệm vụ đổi mới ứng dụng khoa học công nghệ có ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giai đoạn 2026–2027.
Quá trình tiếp nhận đã ghi nhận hàng trăm hồ sơ, phản ánh sự quan tâm của doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các đơn vị liên quan đối với hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ mới.
Việc lựa chọn những nhiệm vụ có khả năng triển khai trong thực tiễn được kỳ vọng sẽ tạo ra các mô hình để những doanh nghiệp khác tham khảo, học hỏi và tiếp tục ứng dụng.
Từ tiếp cận chính sách đến triển khai nhiệm vụ đổi mới công nghệ
Mặc dù các cơ chế hỗ trợ ngày càng được mở rộng, TS. Chử Đức Hoàng cho rằng, khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn lực vẫn phụ thuộc trước hết vào sự chuẩn bị của doanh nghiệp.
Theo đó, doanh nghiệp cần xác định rõ vấn đề công nghệ đang gặp phải, mục tiêu cần giải quyết và nguồn lực cần thiết. Đây là cơ sở để lựa chọn hình thức hỗ trợ phù hợp, thay vì xây dựng dự án chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp cận kinh phí.
Sau khi xác định bài toán, doanh nghiệp cần chuẩn bị các điều kiện triển khai, từ dữ liệu, nhân sự, tài chính đến phương án tổ chức thực hiện. Trường hợp thiếu chuyên gia hoặc năng lực nghiên cứu, doanh nghiệp có thể liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học và đơn vị tư vấn để cùng xây dựng giải pháp.
Đặc biệt vai trò sự kết nối giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sự phối hợp này giúp kết nối nhu cầu thực tế của sản xuất, kinh doanh với năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được ứng dụng.
TS. Chử Đức Hoàng nhấn mạnh việc tiếp cận nguồn tài trợ phải đi đôi với trách nhiệm tổ chức thực hiện. Quỹ đề cao cơ chế hậu kiểm, theo đó các nhiệm vụ được hỗ trợ cần triển khai nghiêm túc, bảo đảm yêu cầu chuyên môn và tuân thủ quy định pháp luật.
Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào hiệu quả sử dụng nguồn lực, đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mục tiêu, có phương án thực hiện và chịu trách nhiệm đối với kết quả triển khai.


