Quỹ Học bổng Quốc gia mở rộng cơ hội phát triển cho người học
Ngày 16/6, Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT tổ chức hội thảo lấy ý kiến hoàn thiện chính sách về Quỹ học bổng quốc gia.

Ông Trần Văn Đạt, Phó Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT phát biểu đề dẫn tại Hội thảo.
Dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia đang được Bộ GD&ĐT lấy ý kiến nhằm hoàn thiện cơ chế hỗ trợ người học, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Nhiều ý kiến tại hội thảo góp ý cho rằng Quỹ cần được xây dựng theo hướng kết nối các nguồn lực xã hội, bảo đảm công khai, minh bạch và mở rộng cơ hội tiếp cận học bổng cho người học trên cả nước.
Học bổng không chỉ là hỗ trợ tài chính
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Trần Văn Đạt, Phó Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT cho biết, việc xây dựng và ban hành Nghị định quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách về học bổng, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Theo dự thảo Nghị định, Quỹ Học bổng Quốc gia gồm 5 chương trình học bổng: học bổng tài năng; học bổng cho người học đi học tại nước ngoài; học bổng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; học bổng thu hút người nước ngoài học tập, nghiên cứu tại Việt Nam; và học bổng tạo cơ hội phát triển.

Hội thảo có sự tham gia của đại diện lãnh đạo các trường thành viên, đơn vị trực thuộc Đại học Đà Nẵng.
Việc xét chọn học bổng được thực hiện trên cơ sở khung tiêu chí và thang điểm do Bộ GD&ĐT quy định cho từng chương trình, tiểu chương trình. Quá trình xét chọn bảo đảm khách quan, minh bạch, có cơ chế so sánh, xếp hạng giữa các ứng viên, đồng thời phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm liêm chính trong đánh giá.
Đối với người học không thuộc diện ưu tiên, tiêu chuẩn xét chọn được thiết kế theo hướng cao hơn, cạnh tranh hơn, đòi hỏi năng lực, thành tích và tiềm năng phát triển nổi trội.

PGS.TS Lê Thành Bắc, Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng phát biểu tại Hội thảo.
Từ thực tiễn triển khai các chương trình hỗ trợ sinh viên, PGS.TS Lê Thành Bắc, Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng cho rằng, học bổng không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính mà còn là công cụ hiệu quả để phát hiện, khuyến khích và bồi dưỡng nhân tài. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Tại Đại học Đà Nẵng, sinh viên được tiếp cận nhiều chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cùng các chương trình học bổng do doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhà hảo tâm tài trợ. Nhà trường cũng là đầu mối triển khai nhiều chương trình học bổng quốc tế, góp phần mở rộng cơ hội học tập, nghiên cứu và hội nhập cho người học.
Theo Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng, các chương trình học bổng góp phần xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến và trách nhiệm xã hội của thế hệ trẻ. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc đầu tư cho người học cần được xem là giải pháp chiến lược để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cần cơ chế điều phối thống nhất trên phạm vi quốc gia
Theo PGS.TS Lê Thành Bắc, hiện các chương trình học bổng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đây là lợi thế quan trọng trong việc huy động sự chung tay của toàn xã hội cho giáo dục, song cũng đặt ra yêu cầu phải có cơ chế kết nối và điều phối hiệu quả hơn ở phạm vi quốc gia.
Thực tế cho thấy cơ hội tiếp cận học bổng giữa các vùng miền, nhóm đối tượng và cơ sở giáo dục vẫn còn những khác biệt nhất định. Trong khi một số trường có điều kiện thuận lợi để huy động nguồn tài trợ thì nhiều cơ sở giáo dục ở khu vực khó khăn vẫn gặp trở ngại trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ.

TS Huỳnh Minh Sơn, Ban Công tác sinh viên, Quan hệ doanh nghiệp và Truyền thông - Cơ quan Đại học Đà Nẵng góp ý dự thảo.
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá hiệu quả sử dụng học bổng và tác động của các chương trình hỗ trợ đối với sinh viên hiện chủ yếu được thực hiện riêng lẻ tại từng đơn vị. Việc thiếu một cơ chế kết nối dữ liệu và đánh giá tổng thể khiến hiệu quả khai thác các nguồn lực hỗ trợ chưa được phát huy đầy đủ trên phạm vi toàn quốc.
Từ thực tiễn đó, Đại học Đà Nẵng đề xuất Quỹ Học bổng Quốc gia cần được xây dựng theo hướng là đầu mối kết nối, điều phối và phát huy hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế và cộng đồng. Quỹ không nên thay thế các chương trình học bổng hiện có mà cần đóng vai trò bổ sung, kết nối và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các nguồn lực đang được triển khai tại các cơ sở giáo dục.
Đại học Đà Nẵng đề nghị ưu tiên hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, người dân tộc thiểu số, người học thuộc diện chính sách; đồng thời xây dựng cơ chế phát hiện và bồi dưỡng những người học có thành tích xuất sắc trong học tập, nghiên cứu khoa học hoặc các lĩnh vực đất nước đang cần nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một nội dung khác được nhấn mạnh là cần xây dựng cơ chế quản lý, vận hành Quỹ theo hướng công khai, minh bạch, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong tiếp nhận hồ sơ, xét duyệt, quản lý và giám sát quá trình cấp học bổng. Điều này không chỉ tạo thuận lợi cho người học mà còn nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực.

Hội thảo ghi nhận nhiều ý kiến từ cơ sở giáo dục góp phần hoàn thiện Nghị định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng quốc gia.
Đại diện lãnh đạo các trường thành viên của Đại học Đà Nẵng đề xuất nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về học bổng và hỗ trợ người học nhằm kết nối thông tin giữa cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý và đơn vị tài trợ. Hệ thống dữ liệu này sẽ là cơ sở để theo dõi, đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ người học trong dài hạn.
Cùng với đó, vai trò của các cơ sở giáo dục cần được phát huy trong việc rà soát, đề xuất đối tượng thụ hưởng, quản lý và theo dõi quá trình sử dụng học bổng. Đây là những đơn vị trực tiếp quản lý người học, nắm rõ nhu cầu hỗ trợ cũng như khả năng phát huy hiệu quả của các chương trình học bổng trong thực tế.
Nhiều ý kiến tại hội thảo kỳ vọng các góp ý từ cơ sở giáo dục sẽ góp phần hoàn thiện Nghị định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới.













