'Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh' - Mạch nguồn nối dài qua các thế hệ
80 năm đã đi qua kể từ mùa đông lịch sử năm 1946, nhưng tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không chỉ được nhắc lại như một ký ức hào hùng.

Đại diện Ban tổ chức chương trình tặng hoa, chụp ảnh với nhân chứng lịch sử.
Tại Tọa đàm giao lưu nhân chứng lịch sử “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh - Bản hùng ca 80 năm” diễn ra tối 6/10, những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội năm 1946, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường, nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn và công việc của người lính hôm nay đã nối thành một mạch xuyên suốt.
Tọa đàm do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức.
Những ký ức làm nên “mạch nguồn Quyết tử”
Phát biểu khai mạc, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Nhân - Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội nhấn mạnh ý nghĩa của việc ôn lại truyền thống, tri ân những thế hệ đã chiến đấu, hy sinh... qua đó tiếp nối tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Thủ đô hôm nay.
Những thước phim tư liệu “Những Vệ Út năm xưa” đưa người xem trở về mùa đông năm 1946. Giữa 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô, có những chiến sĩ liên lạc của Trung đoàn Thủ đô mới 13, 14 tuổi. Tuổi còn nhỏ nhưng họ đã hoạt động giữa bom đạn, góp sức cùng quân và dân Hà Nội giữ từng ngôi nhà, góc phố.


Đại biểu dự chương trình.
Từ chiến lũy mùa đông năm 1946, câu chuyện được nối đến Hà Nội tháng 12/1972 qua ký ức của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Thế Văn - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không - Không quân), người trực tiếp trải qua 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”.
Ông cùng Đại tá Nguyễn Xuân Hà và đảng viên trẻ Nguyễn Viết Thịnh - Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực phường Ô Chợ Dừa là ba khách mời của phần giao lưu “Mạch nguồn Quyết tử”.
Nhớ lại trận đánh B-52 rạng sáng 19/12/1972, Đại tá Đinh Thế Văn kể, để chuẩn bị đối đầu với loại máy bay được coi là “pháo đài bay”, từ trước đó Tiểu đoàn 77 đã nhiều lần nghiên cứu tính năng, kỹ thuật, chiến thuật của B-52, phân tích thủ đoạn, đường bay và luyện tập phương án tác chiến. “Học ngày không đủ, Tiểu đoàn tranh thủ học đêm. Suốt 12 ngày đêm, chúng tôi không có một giấc ngủ ngon”, Đại tá Đinh Thế Văn nhớ lại.
Đêm 18, rạng sáng 19/12/1972, khi phát hiện B-52, kíp chiến đấu theo dõi mục tiêu, vận dụng phương pháp “đánh 3 điểm” kết hợp “vượt nửa góc”, tập trung phân biệt dải nhiễu để bám đúng mục tiêu. Đến 4h39, hai quả tên lửa được phóng ở cự ly 26km và 25km, đánh trúng B-52.
“Trận đánh này, chúng tôi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, chờ địch vào để đánh chứ không bị bất ngờ”, Đại tá Đinh Thế Văn chia sẻ.
Đằng sau chiến thắng, qua lời kể của người trực tiếp chỉ huy trận đánh, không chỉ có lòng dũng cảm mà còn là sự chuẩn bị, nghiên cứu đối phương, luyện tập và khả năng tìm cách khắc chế nhiễu điện tử. Bởi vậy, câu chuyện về B-52 tại tọa đàm không dừng ở việc nhắc lại một chiến công, mà gợi mở một giá trị xuyên suốt: Bản lĩnh chiến đấu luôn phải đi cùng trí tuệ và khả năng làm chủ phương tiện, kỹ thuật.
Khi truyền thống được trao lại cho người trẻ
Nếu những nhân chứng lịch sử đem đến cho tọa đàm ký ức của người đã đi qua chiến tranh thì những người trẻ cho thấy truyền thống ấy được tiếp nhận như thế nào trong một hoàn cảnh khác.
Câu chuyện của Nguyễn Viết Thịnh là một lát cắt như vậy. Sau khi tốt nghiệp đại học, thay vì lựa chọn ngay công việc văn phòng đúng chuyên ngành, anh tự nguyện tham gia lực lượng Dân quân thường trực và hiện là Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực phường Ô Chợ Dừa.
Với lực lượng dân quân hôm nay, nhiệm vụ không chỉ là sẵn sàng xử lý các tình huống liên quan đến an ninh, trật tự mà còn tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn khi cần thiết.

Học sinh lắng nghe những câu chuyện từ nhân chứng lịch sử.
Từ câu chuyện của một người trẻ ở cơ sở, chương trình tiếp tục kết nối trực tuyến tới Trung đoàn 692 - “Đoàn Thanh Xuyên” anh hùng, đơn vị cơ động sẵn sàng chiến đấu của Lực lượng vũ trang Thủ đô. Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã xây đắp truyền thống “Trung kiên, dũng cảm, luyện giỏi, đánh thắng”.
Tại điểm cầu, chiến sĩ trẻ Đào Đức Đạt chia sẻ niềm tự hào và biết ơn các thế hệ cha anh đã không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu để có được hòa bình. Với anh, niềm tự hào còn đến từ việc chính mình đang được đứng trong hàng ngũ Lực lượng vũ trang Thủ đô, tiếp tục truyền thống “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. “Thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay cần không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, giữ vững bản lĩnh chính trị, gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu đó”, Đào Đức Đạt chia sẻ.
Ở một góc nhìn khác, đoàn viên phường Tùng Thiện Nguyễn Thảo Vy kể về những người lính Trung đoàn 692 mà thanh niên và người dân địa phương thường xuyên gặp trong cuộc sống: Trên thao trường, trong những ngày mưa bão, khi vệ sinh nghĩa trang liệt sĩ, bảo vệ môi trường hay hỗ trợ các gia đình chính sách, gia đình khó khăn. Sự gắn bó quân - dân vì thế không phải một khái niệm trừu tượng mà được tạo dựng từ những công việc cụ thể.
Một điểm lắng khác của chương trình là sự hiện diện của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Mạnh. Chồng Mẹ là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Thoi, hy sinh năm 1969 trong kháng chiến chống Mỹ; người con trai út là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Hải, hy sinh năm 1988 khi làm nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc. Khi những đoàn viên, học sinh, chiến sĩ trẻ quây quần bên Mẹ, khoảng cách giữa những trang lịch sử và thế hệ hôm nay dường như được rút ngắn.
Nếu phần đầu của tọa đàm đi tìm mạch nguồn, thì phần “Viết tiếp bản hùng ca” đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được thể hiện như thế nào khi đất nước không còn chiến tranh?

Khách mời giao lưu tại chương trình.
Ba khách mời tham gia phần giao lưu gồm Trung tướng Đào Văn Nhận, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam); Thượng úy Kiều Ngọc Hưng, Chính trị viên Đại đội Phòng hóa, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã tạo nên ba góc nhìn: Người chỉ huy trước yêu cầu xây dựng lực lượng và bảo vệ Thủ đô; người chiến sĩ trẻ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ; nhà nghiên cứu văn hóa nhìn vào cội nguồn tinh thần của con người Hà Nội.
Sau hai giờ giao lưu, những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội năm 1946, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường thời bình đã nối liền các thế hệ người lính Thủ đô. Hoàn cảnh và nhiệm vụ đã khác, nhưng điều được trao lại vẫn là bản lĩnh, trách nhiệm và tinh thần sẵn sàng nhận việc khó. Bởi truyền thống chỉ thực sự được tiếp nối khi những giá trị của quá khứ hiện diện trong cách mỗi người hoàn thành nhiệm vụ của mình.

