Ra biển bằng 'đôi chân thể chế và công nghệ' để trở thành quốc gia biển mạnh

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh để trở thành 'quốc gia biển mạnh,' Việt Nam phải ra biển bằng 'đôi chân thể chế và công nghệ' để tạo đột phá chiến lược.

Giàn khoan của Vietsovpetro. (Ảnh: TTXVN phát)

Giàn khoan của Vietsovpetro. (Ảnh: TTXVN phát)

Sáng 20/7/2026, tại Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, trong đó đề cập tới nội dung quan trọng về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36 của Trung ương khóa XII và ban hành Nghị quyết của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Trong ngày hôm qua (22/7), Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiếp tục ngày làm việc thứ ba với nhiều nội dung, trong đó có thảo luận về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII "về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045."

Nhân dịp này, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã có cuộc phỏng vấn Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi (Nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch thường trực - phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam), về thực tiễn phát triển kinh tế biển hiện nay, cũng như giải pháp để Việt Nam trở thành “quốc gia biển mạnh.”

Phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế

- Thưa Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam sở hữu hơn 3.260km bờ biển (không tính bờ các đảo) cùng vị trí chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ góc nhìn chuyên gia, ông đánh giá như thế nào về những lợi thế nổi trội và tiềm năng khác biệt của Việt Nam để phát triển kinh tế biển vững mạnh?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Việt Nam là một quốc gia biển với vùng biển rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền, đường bờ biển dài hơn 3.260 km (không tính bờ các đảo) chạy theo hướng Bắc-Nam, tạo lợi thế “mặt tiền” hướng ra Biển Đông. Dọc bờ biển khúc khuỷu có nhiều mũi đá nhô, vũng vịnh, cửa sông, đầm phá, các vùng đất thấp với các giá trị bảo tồn và lợi thế phát triển đa dạng.

Việt Nam cũng thuộc nhóm quốc gia nhiều đảo trên thế giới với hơn 3.000 đảo lớn nhỏ phân bố thành các tuyến, cụm và quần đảo án ngữ từ bờ ra khơi.

Đặc biệt, gần 2.400 đảo lớn nhỏ trong số 2.773 đảo ven bờ phân bố tập trung trong vùng biển sát bờ Quảng Ninh-Hải Phòng cấu thành nên quần thể đảo đá vôi karst Bái Tử Long-Hạ Long-Cát Bà độc đáo không chỉ về quy mô, mà còn chứa đựng các giá trị di sản thiên nhiên ngoại hạng toàn cầu.

 Phát triển bền vững kinh tế biển. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Phát triển bền vững kinh tế biển. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Xếp sau là vùng biển Khánh Hòa (hơn 225 đảo) và đường bờ biển dài nhất nước (490km), tiếp theo là An Giang (hơn 140 đảo) với đảo Phú Quốc lớn nhất cả nước. Nằm trong khu vực Biển Đông chiếm vị trí “nút giao” của các sáng kiến toàn cầu, nên biển Việt Nam vừa có những cơ hội và thách thức đan xen.

Trong bối cảnh đó, hai quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta không chỉ là hai trung tâm đa dạng sinh học biển quan trọng nhất, mà còn là hai “tiền đồn” kiểm soát không gian biển (ba chiều) và các hoạt động trên tuyến hàng hải quốc tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cắt qua Biển Đông…

Cùng với điều kiện khí tượng-hải văn đặc trưng nhiệt đới gió mùa, các vùng biển nói trên trở thành không gian sinh tồn, không gian an ninh chiến lược, cung cấp tiềm năng tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, tạo tiền đề cho Việt Nam phấn đấu trở thành một “Quốc gia biển mạnh.”

Đáng kể là các lợi thế về nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học biển và các hệ sinh thái biển-ven biển; dầu khí, băng cháy, khoáng sản rắn; năng lượng biển tái tạo, năng lượng gió biển và mặt trời trên biển, nhiên liệu sinh học biển, hóa chất trong nước biển, carbon xanh lam, các giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái biển; vị thế của các mảng không gian biển, đảo, vùng ven biển cho phát triển cảng-hàng hải, du lịch, đô thị biển.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực - phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực - phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

- Với tiềm năng trên, gần 8 năm trước, Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã đặt mục tiêu đưa kinh tế biển đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng quốc gia. Tuy nhiên, theo ông, việc khai thác và phát huy tiềm năng biển của Việt Nam hiện nay đã tương xứng với những lợi thế sẵn có hay chưa? Đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất đang cản trở sự bứt phá của kinh tế biển nước ta?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Những đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước trong 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW vừa qua đã được đánh giá và ghi nhận. Song bên cạnh ảnh hưởng phức tạp từ tình hình thế giới, cục diện Biển Đông, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, việc triển khai theo “thói quen” cũ cũng khiến cho nghị quyết vẫn chưa thể đi vào cuộc sống theo đúng mục tiêu và kỳ vọng.

Việc khai thác, sử dụng và quản trị biển đảo để phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế mà biển đảo mang lại, còn thiếu bền vững.

Điều đó thể hiện ở khả năng hiện thực hóa các quan điểm, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ ghi trong nghị quyết thành các giải pháp và sản phẩm cụ thể tương ứng của các ngành, lĩnh vực và địa phương còn bất cập. Thế nên, việc khai thác, sử dụng và quản trị biển đảo để phát triển kinh tế biển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế mà biển đảo mang lại, còn thiếu bền vững.

Hiện vẫn còn tồn tại những “điểm nghẽn” cản trở sự bứt phá của kinh tế biển nước ta trong thời gian tới. Trước hết, nhận thức về phát triển bền vững kinh tế biển trong bối cảnh phát triển đa ngành, đa mục tiêu và quản trị biển theo không gian có sự khác biệt đáng kể. Thứ hai là chậm hoàn thiện thể chế theo cách tiếp cận quản lý tổng hợp và thống nhất quản lý nhà nước về biển, đảo. Tiếp đó là thiếu hoặc vận hành chưa hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng, liên cơ quan và liên vấn đề.

Mặt khác, thời gian qua vẫn ưu tiên phát triển kinh tế đơn thuần theo ngành, quy hoạch phân mảnh, nên không ít trường hợp sự phát triển của ngành này, địa phương này có thể làm suy giảm hoặc triệt tiêu tiềm năng phát triển của ngành khác, địa phương khác, trong khi quy hoạch không gian biển quốc gia chưa phát huy tác dụng theo đúng nghĩa của nó, nhất là ở cấp địa phương.

Ngoài ra, không ít phương thức khai thác tài nguyên và quản trị biển bằng các phương thức, phương tiện còn cũ kỹ, lạc hậu, vai trò của doanh nghiệp và cộng đồng địa phương còn hạn chế. Trong khi, khai thác và quản lý biển đảo hiệu quả đòi hỏi phải có suất đầu tư lớn, khoa học phải tiên tiến, áp dụng công nghệ phải hiện đại, vượt trội. Các điểm nghẽn trên dẫn đến khai thác quá mức, suy kiệt nguồn lợi biển, hạn chế năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa từ biển...

 Người dân tắm biển dọc bờ biển Cửa Lò. (Ảnh: Bích Huệ/TTXVN)

Người dân tắm biển dọc bờ biển Cửa Lò. (Ảnh: Bích Huệ/TTXVN)

Đặc biệt, mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian trong quá trình khai thác, sử dụng cùng một vùng biển không những không giảm mà thậm chí còn gia tăng và phức tạp hơn. Đây cũng là hậu quả của tầm nhìn ngắn hạn, cục bộ, manh mún, thiếu toàn diện trong phát triển kinh tế biển theo tiếp cận kinh tế biển “nâu.”

Cơ hội lớn để Việt Nam phấn đấu trở thành “quốc gia biển mạnh”

- Thời gian qua, việc sáp nhập các tỉnh, thành phố trên cả nước đang tạo ra những không gian phát triển mới, trong đó có những địa phương trước đây là tỉnh miền núi, trung du hoặc cao nguyên nay đã có cửa ngõ hướng biển. Từ góc nhìn chuyên gia, theo ông, sự thay đổi này sẽ mang lại những cơ hội chiến lược nào cho phát triển kinh tế biển và kết nối vùng trong giai đoạn tới?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Biển là một yếu tố vượt trội của nước ta như đã nói trên. Vì vậy khi “tổ chức lại lãnh thổ” cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, lợi thế này đã được tính đến, hoàn toàn phù hợp với lợi thế của một quốc gia biển. Đặc biệt, sau ngày 1/7/2025, tỷ lệ các tỉnh có biển và không có biển hiện nay là 21/34, trước kia tỷ lệ này là 28/63.

Sự điều chỉnh trên cho thấy Trung ương bắt đầu chuẩn bị phương án chiến lược trong dài hạn để Việt Nam phấn đấu trở thành “Quốc gia biển mạnh.” Trong đó, một số cơ hội chiến lược “mở ra” cho các địa phương và kinh tế quốc gia như: Mở rộng không gian để tăng dư địa phát triển, dễ dàng hơn trong hỗ trợ vùng miền và có thêm diện tích đủ lớn hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược; hình thành một hệ sinh thái đa dụng cho phát triển đa dạng nhiều ngành kinh tế trên đơn vị hành chính mới; khắc phục tình trạng chia cắt “hành chính” trong quản lý môi trường lưu vực sông và biển theo cách tiếp cận “từ nguồn ra biển.”

Mặt khác, việc sáp nhập các địa phương cũng phát huy tính đa dạng về văn hóa vùng miền, nhất là văn hóa đặc trưng biển, biến văn hóa không chỉ là động lực tinh thần mà còn là động lực phát triển; thuận lợi cho liên kết vùng, gắn phát triển miền núi, trung du, cao nguyên với dải đồng bằng ven biển, biển, đảo để tạo thế và lực mới trong phát triển kinh tế hướng biển, gắn kết với và hỗ trợ cho bảo đảm quốc phòng an ninh theo “lãnh thổ hành chính”; tạo cơ hội để phân cấp, phân quyền mạnh cho địa phương, tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, giảm đầu mối tổ chức và biên chế, giúp địa phương giải phóng năng lực nội sinh vốn có trên đơn vị lãnh thổ mới và sự tham gia đóng góp chủ động của người dân.

 Cảng Cửa Lò, tỉnh Nghệ An hiện có thể tiếp nhận tàu tải trọng đến 20.000 - 25.000 DWT, với năng lực bốc xếp đạt trung bình 6.000 - 8.000 tấn/ngày. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Cảng Cửa Lò, tỉnh Nghệ An hiện có thể tiếp nhận tàu tải trọng đến 20.000 - 25.000 DWT, với năng lực bốc xếp đạt trung bình 6.000 - 8.000 tấn/ngày. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

- Rõ ràng Việt Nam có nhiều dư địa để trở thành quốc gia biển mạnh. Vậy ông đánh giá thế nào về cơ hội hình thành các cực tăng trưởng mới dựa trên liên kết “núi-rừng-biển” hay “cao nguyên-cảng biển-logistics” sau sáp nhập và đâu là những ngành kinh tế biển xanh giàu tiềm năng cần được ưu tiên phát triển?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Sau hợp nhất, dải ven biển và 21 tỉnh, thành phố có biển tiếp tục được xác định nằm trong vùng kinh tế động lực. Quy mô không gian biển tỉnh, thành phố có biển hoặc được giữ nguyên (như Quảng Ninh, Hải Phòng,…) hoặc được mở rộng (như Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau,…). Điều này đã đem lại cơ hội để xây dựng mô hình tăng trưởng mới trong quy hoạch điều chỉnh các tỉnh, thành phố có biển.

Dư địa mới, cơ hội phát triển mới sau hợp nhất đã được các địa phương có biển trên cả nước chuyển hóa thành các kịch bản phát triển kinh tế biển trong kỷ nguyên mới theo hướng nhanh, xanh và bền vững.

Các địa phương trên đều xem kinh tế biển là lĩnh vực mũi nhọn, ưu tiên liên kết vùng núi rừng với vùng ven biển, biển, đảo để xây dựng các trung tâm logistics gắn với các cảng biển. Giải pháp chính thường được các địa phương chú trọng là xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng tự nhiên để không chỉ liên kết vùng, mà còn rút ngắn khoảng cách trong quản lý, nâng cao hiệu suất, hiệu lực, hiệu năng của bộ máy hành chính...

Bên cạnh đó, các ngành kinh tế biển mới cũng được chú trọng hình thành, như: Năng lượng biển tái tạo, năng lượng gió biển, năng lượng mặt trời trên biển, nhiên liệu sinh học biển, kinh tế bảo tồn, nghề cá giải trí, du lịch sinh thái biển, dược liệu biển, đô thị biển, công nghiệp văn hóa đặc trưng biển Việt Nam, carbon xanh. Đó cũng là các ngành, nghề kinh tế biển xanh, ít thải carbon, thân thiện môi trường và tiết kiệm tài nguyên biển vật chất...

Đặc biệt là từng bước hình thành và phát triển kinh tế biển xanh, trong đó ưu tiên phát triển điện gió biển, dược liệu biển, nuôi biển và kinh tế bảo tồn gắn với du lịch biển đảo trong các khu bảo tồn biển.

Cầu Cửa Nhượng bắc qua cửa biển và bãi biển Thiên Cầm có hình cánh cung tạo nên cảnh đẹp ấn tượng. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)

Cầu Cửa Nhượng bắc qua cửa biển và bãi biển Thiên Cầm có hình cánh cung tạo nên cảnh đẹp ấn tượng. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)

Phải ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ” để tạo đột phá

- Để sớm hiện thực hóa mục tiêu trở thành “quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI,” theo ông, Việt Nam cần có những đột phá gì về thể chế, quy hoạch không gian biển và quản trị tổng hợp vùng bờ để biến những thay đổi về địa giới hành chính thành động lực phát triển dài hạn?

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi: Có thể nhận định các tiềm năng biển, đảo nói trên tạo tiền đề thúc đẩy các hoạt động khai thác biển xa, hình thành một lĩnh vực “kinh tế biển sâu” trong tương lai gần.

Trước thời cơ đó, Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận chiến lược để biến những tiềm năng này thành động lực tăng trưởng mới, tránh được nguy cơ khai thác quá mức hoặc đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế thuần túy.

Trong bối cảnh mới, khai thác biển xa, biển sâu thường vấp phải nhiều rủi ro cả về thiên tai và nhân tai, đòi hỏi suất đầu tư lớn và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, các thiết bị khai thác biển sâu, xa thường siêu trường, siêu trọng (như trường hợp điện gió ngoài khơi). Vì thế, Việt Nam phải ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ” để tạo đột phá chiến lược.

Việt Nam phải ra biển bằng “đôi chân thể chế và công nghệ” để tạo đột phá chiến lược.

Trước hết, chúng ta cần chú trọng đầu tư phát triển và ứng dụng các công nghệ biển tiên tiến, áp dụng chuyển đổi số và AI để làm chủ được các vùng biển xa, sâu hơn, và không chỉ không gian trên mặt biển, mà còn không gian ngầm dưới khối nước biển. Các hoạt động khai thác biển sâu phải được công nghiệp hóa; thiết bị khai thác được tự động hóa, tự nâng, tự di chuyển.

Quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển phải được áp dụng ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển để giảm thiểu xung đột giữa các ngành/người trong sử dụng không gian ở cùng một vùng biển. Việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách cũng là cách tháo gỡ rào cản để bứt phá.

Trước mắt, sớm điều chỉnh Luật Tài nguyên, môi trường biển hải đảo để tạo điều kiện, khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư chiến lược “tiến ra biển lớn;” ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế biển mới như đã nói trên. Đặc biệt, chúng ta không thể chấp nhận thực tiễn phát triển biển đảo theo lối tư duy cũ và phải biến những thay đổi về địa giới hành chính thành động lực phát triển dài hạn. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững trong một không gian biển được quản trị tổng hợp, liên ngành, liên thông và gắn kết nhau. Cùng với đó, phát triển không gian biển dựa trên nguyên tắc phải đặt các hoạt động kinh tế trong một không gian được sử dụng đa ngành, làm sao để các ngành kinh tế cùng tồn tại, hài hòa lợi ích; không xung đột với nhau, cùng phát triển, tối ưu hóa giá trị của một đơn vị không gian biển.

Ngoài ra, bố trí hợp lý các hoạt động kinh tế trong không gian biển, cân bằng lợi ích các ngành và nhu cầu sử dụng không gian của từng ngành để các hoạt động vừa phát triển, duy trì được các mối liên kết tự nhiên và kinh tế bằng cách phân kỳ hợp lý trong quá trình lập kế hoạch khai thác, sử dụng biển.

Nói cách khác, tư duy mới giúp chúng ta nhận thức rõ hơn rằng đối với phát triển bền vững biển đảo của nước ta không chỉ hiểu đơn giản là sự cân bằng giữa ba trụ cột truyền thống (kinh tế, xã hội và môi trường) theo cách tiếp cận lâu nay mà cần phải bổ sung thêm trụ cột an ninh và quản trị biển.

Như vậy, cách tiếp cận phát triển và quản trị dựa trên không gian biển thực chất là một triết lý phát triển mới. Quản trị không gian biển sẽ giúp chúng ta có tầm nhìn toàn diện hơn, chiến lược hơn, bền vững hơn; nhận diện được đầy đủ hơn các chiều cạnh của sự phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển mới và mô hình quản trị tổng hợp về biển, đảo và vùng ven biển.

- Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi!

 Nuôi trồng và chế biến thủy sản giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: Lê Đông/TTXVN)

Nuôi trồng và chế biến thủy sản giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển của tỉnh Thanh Hóa. (Ảnh: Lê Đông/TTXVN)

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/ra-bien-bang-doi-chan-the-che-va-cong-nghe-de-tro-thanh-quoc-gia-bien-manh-post1125758.vnp