Rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm: Kiểm tra, xác nhận dữ liệu
Phụ lục VI Kiểm tra, xác nhận dữ liệu tại Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW ngày 19/10/2026 của Ban Tổ chức Trung ương rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế trong hệ thống chính trị.

KIỂM TRA, XÁC NHẬN DỮ LIỆU
1. Nội dung kiểm tra
Cơ quan, đơn vị kiểm tra tính đầy đủ, chính xác và thống nhất của số liệu đã kê khai, bổ sung; tập trung vào căn cứ pháp lý, phạm vi và kỳ thống kê; danh mục nhiệm vụ, công việc, sản phẩm; khối lượng và thời gian thực hiện; các yếu tố tăng, giảm khối lượng công việc; vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và phương án biên chế.
Việc kiểm tra phải bảo đảm kế thừa dữ liệu đã được xác nhận, không thống kê trùng nhiệm vụ, công việc, sản phẩm, thời gian thực hiện và nhân lực. Đối chiếu danh mục vị trí việc làm với văn bản đã được cấp có thẩm quyền ban hành, phê duyệt; rà soát đầy đủ các cơ quan tham mưu, giúp việc và đơn vị sự nghiệp của Đảng; phân biệt cán bộ, công chức, viên chức và các chế độ nhân sự khác.
Đối với nhân sự kiêm nhiệm công tác đảng, phải xác định rõ vị trí việc làm chính, cơ quan quản lý, sử dụng nhân lực và nơi tính biên chế; bảo đảm phản ánh đầy đủ khối lượng công việc nhưng chỉ tổng hợp số người, biên chế một lần.
Kết quả kiểm tra tự động chỉ hỗ trợ nhận diện thiếu dữ liệu, mã sai, phần giờ trùng hoặc vượt phạm vi; không thay thế việc kiểm tra chứng từ, kiểm chứng nghiệp vụ và xác nhận theo thẩm quyền. Trạng thái chưa chạy kiểm tra, ô trống hoặc cảnh báo chưa hoàn thiện không được coi là "đã đạt".
2. Những sai sót thường gặp và cách xử lý
3. Trách nhiệm kiểm tra, xác nhận
Cơ quan, đơn vị trực tiếp kê khai chịu trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của dữ liệu. Bộ phận chuyên môn xác nhận nhiệm vụ, công việc, sản phẩm, chất lượng, khối lượng và thời gian thực hiện; bộ phận tổ chức cán bộ kiểm tra danh mục vị trí việc làm, loại nhân lực, số người hiện có, biên chế được giao và phương án bố trí. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về kết quả thuộc phạm vi quản lý theo quy định.
Cơ quan được giao tổng hợp kiểm tra tính thống nhất giữa các biểu, đối chiếu số liệu của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý, xử lý hoặc yêu cầu làm rõ những nội dung còn khác nhau trước khi tổng hợp. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về số liệu thuộc phạm vi quản lý theo quy định.
Kiểm tra có trọng tâm đối với sản lượng, thời gian lao động tăng đột biến; mức giờ khác biệt đáng kể giữa đơn vị tương đồng; nhiệm vụ chưa rõ căn cứ; tác động số hóa, thuê dịch vụ chưa được kiểm chứng; người kiêm nhiệm hoặc kết quả có nguy cơ tính trùng. Kết quả kiểm tra tại các đơn vị đại diện được sử dụng để hoàn thiện danh mục, phương pháp và hỗ trợ những đơn vị chưa đủ dữ liệu; không đồng nhất kiểm tra thử với phê duyệt định mức.
Đối với những nội dung chưa đủ căn cứ xác nhận, phải ghi rõ thông tin còn thiếu, nguyên nhân, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thiện. Không tự điều chỉnh số liệu nguồn hoặc sử dụng số liệu chưa được kiểm chứng làm căn cứ trực tiếp đề xuất giao biên chế. Phần dữ liệu đủ căn cứ vẫn được tổng hợp đúng phạm vi; phần còn thiếu phải theo dõi riêng, không coi là nhu cầu bằng không và không coi kết quả tính một phần là nhu cầu đầy đủ của vị trí. Trường hợp cần thiết, phương án bố trí chuyển tiếp được xem xét theo thẩm quyền trên cơ sở căn cứ hiện hành còn giá trị.
Điều kiện sử dụng PP2: danh mục công việc đầy đủ; sản lượng, thời gian và thay đổi thuộc phạm vi tính có căn cứ, được xác nhận; quỹ giờ 1.904 giờ hoặc mức đặc thù đã phê duyệt được ghi rõ, cùng kỳ và không trùng thời gian. Thiếu dữ liệu phải ghi trạng thái, không dùng kết quả tính thử làm nhu cầu đã kiểm chứng. Kiểm tra riêng việc không sử dụng số người, biên chế hiện có, ngạch, bậc và tiền lương làm biến số trong công thức xác định nhu cầu; trường hợp phát hiện phải sửa, tính lại trên căn cứ công việc và thời gian hợp lệ. Khi đối chiếu kết quả lập phương án, kiểm tra cột số người cần bố trí trong Biểu D2 đã liên kết đúng mã với Biểu C3; trường hợp cần dự báo thay đổi theo năm phải có thuyết minh riêng, không nhập đè ô công thức. Các thông báo cảnh báo là kết quả kiểm tra kỹ thuật, không tự thay thế thẩm định nghiệp vụ. Đối với công việc chưa có định mức, kết quả đo, kiểm đếm, ước lượng phải ghi nguồn, phương pháp đo hoặc cách ước, người phụ trách kiểm tra và xác nhận; cảnh báo kỹ thuật "ĐẠT" không đồng nghĩa đã xác nhận nghiệp vụ. PP3 được giải trình và xác nhận theo thẩm quyền, không bắt buộc lượng hóa phút/sản phẩm.
