Rõ trách nhiệm trong phối hợp liên ngành thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Đây là nhấn mạnh của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh tại cuộc họp nghe Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) báo cáo về tình hình xây dựng dự thảo Quy chế phối hợp liên ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC (gọi tắt là dự thảo Quy chế) chiều nay (9/3).
Đổi mới tư duy phối hợp, tránh tình trạng “mạnh ai nấy làm”
Báo cáo của Cục Kiểm soát TTHC, thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phối hợp, tránh chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm, Cục đã hoàn thiện dự thảo Quy chế theo hướng “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền) trên cơ sở bám sát nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo 57 đề ra và chức năng, nhiệm vụ của các Bộ (Tư pháp, Công an, Khoa học và Công nghệ).

Quang cảnh cuộc họp
Theo đó, dự thảo Quy chế gồm 3 chương và 12 điều. Chương I gồm phạm vi điều chỉnh, quan điểm mục đích phối hợp, nguyên tắc phối hợp, hình thức phối hợp và cơ chế điều phối. Chương II quy định công tác phối hợp theo 6 nhóm lĩnh vực chính là: thể chế, dữ liệu, nền tảng và hạ tầng, nguồn lực, an toàn thông tin và an ninh mạng, trách nhiệm các Bộ. Chương III quy định về hiệu lực và trách nhiệm thi hành.
Phát biểu tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh yêu cầu xác định rõ vai trò điều phối chung của cơ quan chủ trì trong công tác cải cách TTHC, đồng thời trong Quy chế, Kế hoạch phối hợp cần quy định cụ thể trách nhiệm trực tiếp của từng Bộ, ngành đối với từng nhiệm vụ. Theo đó, phải làm rõ nội dung Bộ Tư pháp chủ trì, Bộ Công an chủ trì, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì cũng như trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan. Các nội dung thay đổi, điều chỉnh liên quan đến cải cách TTHC phải được thống nhất giữa ba Bộ, thông qua cơ chế phối hợp bảo đảm xử lý kịp thời, nhanh chóng, gắn với việc ban hành chương trình phối hợp, tổ chức báo cáo chuyên đề và định kỳ sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng yêu cầu đổi mới tư duy phối hợp, tránh tình trạng “mạnh ai nấy làm”. Bên cạnh các hình thức trao đổi bằng văn bản, báo cáo chuyên đề và chia sẻ thông tin, cần bổ sung cơ chế phối hợp trực tuyến thông qua nền tảng công cụ điều phối dùng chung, cho phép các Bộ cập nhật, tiếp nhận và xử lý thông tin theo thời gian thực. Nền tảng này phải bảo đảm việc theo dõi tiến độ, cập nhật kết quả xử lý và phối hợp triển khai công việc một cách đồng bộ, kịp thời.
Đưa Hệ thống thông tin giải quyết TTHC vào vận hành từ ngày 1/7
Đối với lộ trình triển khai Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tập trung, Thứ trưởng yêu cầu rà soát, hoàn thiện Kế hoạch năm 2026 theo hướng xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu và kết quả cụ thể, tránh xây dựng kế hoạch chung chung. Theo đó, trong tháng 3 và tháng 4 cần hoàn thành việc xây dựng, vận hành và triển khai thí điểm Hệ thống theo chỉ đạo của Chính phủ; tháng 5 tập trung khắc phục các sự cố phát sinh; tháng 6 tiến hành kiểm thử toàn bộ Hệ thống, đánh giá khả năng vận hành chính thức và điều kiện để chuyển đổi, cắt bỏ hệ thống cũ. Các công việc chuẩn bị phải hoàn thành trước ngày 30/6, để từ ngày 1/7 chính thức đưa Hệ thống vào vận hành.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh phát biểu tại cuộc họp
Trong quá trình triển khai, cơ quan điều phối cải cách TTHC có trách nhiệm đánh giá tính khả thi của Hệ thống từ góc độ phục vụ người dân và việc vận hành TTHC; đồng thời kiểm tra mức độ đồng bộ về công nghệ, đôn đốc các đơn vị liên quan khắc phục các vấn đề phát sinh trong quá trình thí điểm tại các địa phương.
Trên cơ sở đó, Thứ trưởng giao Bộ Tư pháp chủ trì tổng hợp các khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật về cải cách TTHC; phối hợp với các Bộ liên quan nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện. Đồng thời, chủ trì công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về cải cách TTHC, bảo đảm các thông tin liên quan được cập nhật kịp thời trên Cổng Pháp luật quốc gia, coi đây là kênh thông tin chính thức phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng cũng nhấn mạnh, cần nêu rõ trách nhiệm của Bộ Công an trong chủ trì theo dõi, đôn đốc việc xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm dữ liệu đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”. Đồng thời hướng dẫn, kiểm tra việc tái sử dụng dữ liệu trong thực hiện TTHC và khai thác dữ liệu để làm giàu các cơ sở dữ liệu.












