Sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 12,4%, cao nhất cùng kỳ từ năm 2019
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), sản xuất công nghiệp tháng 10 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 10 tháng, IIP tăng 12,4%, cao hơn mức tăng 9,2% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026.
Xét theo ngành, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi tăng 13% trong 10 tháng, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành khai khoáng tăng 7,1%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 1 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Riêng trong tháng 10, chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện cùng tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; khai khoáng tăng 4,9%.
Nhiều ngành công nghiệp cấp II ghi nhận mức tăng khá trong 10 tháng. Trong đó, sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%; chế biến thực phẩm tăng 12,9%.
Một số ngành khác cũng duy trì mức tăng hai chữ số như sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,7%; dệt tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 10,1%. Ở chiều ngược lại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,3%; khai thác than cứng và than non giảm 0,6%.

Sản xuất thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao và sản phẩm dẹt là thép cuộn cán nóng tại Nhà máy thép Hòa Phát Dung Quất. Ảnh: Đức Thanh
Đà tăng cũng thể hiện ở một số sản phẩm công nghiệp chủ lực. Trong 10 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24%; thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; đường kính tăng 18,9%; sắt, thép thô tăng 17%; bia tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, một số sản phẩm có sản lượng giảm, gồm bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.
Theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng ở 33 địa phương; riêng Sơn La giảm 5%. Một số địa phương có mức tăng cao ở ngành chế biến, chế tạo gồm Hà Tĩnh tăng 41,1%; Quảng Ninh tăng 34,2%; Ninh Bình tăng 26,1%; Nghệ An tăng 25,8%; Thái Nguyên tăng 23,3% và Bắc Ninh tăng 20,5%.
Cùng với sản xuất, lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp cũng tăng. Tại thời điểm ngày 1/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong đó, lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ; ngành sản xuất, phân phối điện tăng tương ứng 0,2% và 1,8%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và 3,9%. Riêng ngành khai khoáng, lao động tăng 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,3% so với cùng thời điểm năm trước.
