Sắp xếp lại hệ thống đại học công lập để có những 'đầu tàu' thật sự

Chủ trương giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027 là bước tái cấu trúc cần thiết nhằm khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải nguồn lực trong hệ thống giáo dục đại học; hướng tới xây dựng các đại học 'đầu tàu' thật sự.

Bước tái cấu trúc cần thiết và tất yếu

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kế hoạch số 06-KH/TW, ngày 28/7/2026 thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong đó, yêu cầu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, hoàn thành trước ngày 1/4/2027. Trước đó, Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo của Bộ Chính trị cũng yêu cầu triển khai sắp xếp, tái cấu trúc các cơ sở giáo dục đại học; sáp nhập, giải thể các cơ sở giáo dục đại học không đạt chuẩn...

TS Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT cho rằng, việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống giáo dục đại học công lập là bước đi tất yếu để tăng sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam, hướng tới có những “đầu tàu” thật sự, nhất là trong bối cảnh cả nước đang đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Hệ thống giáo dục đại học công lập sẽ được sắp xếp lại theo hướng giảm tối thiểu 20% đầu mối trước ngày 1/4/2027.

Hệ thống giáo dục đại học công lập sẽ được sắp xếp lại theo hướng giảm tối thiểu 20% đầu mối trước ngày 1/4/2027.

Mặc dù Việt Nam hiện có hàng trăm cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng công lập, song phần lớn các cơ sở này có quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, chất lượng đào tạo và nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó, nhiều trường được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ cao đẳng nhưng thiếu nền tảng quản trị đại học hiện đại; chồng chéo về chức năng nhiệm vụ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và lãng phí nguồn lực; thiếu sự cạnh tranh quốc tế và hạn chế trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo khi số lượng công bố quốc tế còn thấp; liên kết giữa đại học-doanh nghiệp-viện nghiên cứu yếu.

Nếu tiếp tục duy trì hiện trạng này, giáo dục đại học Việt Nam sẽ đối mặt với những hệ lụy nghiêm trọng như suy giảm chất lượng do nguồn lực phân tán, các trường khó đầu tư cho hạ tầng, phòng thí nghiệm, đội ngũ giảng viên; lãng phí nguồn lực công do Nhà nước phải duy trì chi ngân sách cho nhiều đơn vị nhỏ, thay vì tập trung đầu tư cho các trung tâm xuất sắc; mất cơ hội cạnh tranh quốc tế; khó gắn kết với nhu cầu phát triển khi hệ thống đại học không cung cấp được nhân lực chất lượng cao cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo…

"Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế tri thức, dựa trên khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để đạt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, Việt Nam buộc phải có một hệ thống đại học mạnh, đủ sức đào tạo nhân lực chất lượng cao và sản sinh tri thức mới. Trong bối cảnh đó, sáp nhập các trường đại học để hình thành đại học đa lĩnh vực, có quy mô lớn, có năng lực nghiên cứu -đào tạo liên ngành là giải pháp chiến lược. Đây không chỉ là yêu cầu về giáo dục mà còn là một quyết định chính trị gắn với tương lai quốc gia", TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận, chủ trương giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, ưu tiên sáp nhập các trường cùng địa bàn và hoàn thành trước ngày 1/4/2027 là bước tái cấu trúc cần thiết nhằm khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải nguồn lực trong hệ thống giáo dục đại học.

Khi hợp nhất, các trường có thể dùng chung thư viện, phòng thí nghiệm, ký túc xá, đội ngũ giảng viên chất lượng cao và nguồn kinh phí nghiên cứu, tránh đầu tư trùng lặp. Quan trọng hơn, việc hình thành các đại học đa ngành, quy mô lớn cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo thuận lợi cho kiểm định chất lượng, tham gia xếp hạng quốc tế, thu hút dự án nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp. Sinh viên có thêm cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo liên ngành, trong khi Nhà nước cũng thuận lợi hơn trong quản lý, phân bổ ngân sách và khắc phục tình trạng các trường quy mô nhỏ tồn tại chủ yếu nhờ chỉ tiêu tuyển sinh...

Giảm đầu mối phải đi cùng đổi mới mô hình quản trị

Theo TS Lê Viết Khuyến, tiến trình sáp nhập đại học ở Việt Nam là xu hướng không thể đảo ngược nhưng kết quả tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào cách thức thực hiện. Nếu chỉ dùng mệnh lệnh hành chính, kết quả sẽ là một “cơ thể khổng lồ nhưng yếu ớt”. Nếu dựa trên nguyên tắc minh bạch, tự chủ, và bảo đảm quyền lợi của người học, giảng viên, quá trình này có thể trở thành cơ hội lịch sử để nâng tầm hệ thống đại học quốc gia. Do đó, việc sáp nhập cần dựa trên những tiêu chí khoa học, chặt chẽ nhằm hình thành các đại học đa lĩnh vực bền vững; tránh việc sáp nhập tùy tiện, duy ý chí.

Trước hết là tiêu chí về địa lý, có thể ưu tiên sáp nhập các trường có cùng địa bàn (thành phố, tỉnh), nhằm tận dụng hạ tầng chung, giảm chi phí quản lý; tránh việc gom trường ở xa nhau, gây khó khăn cho sinh viên và giảng viên trong học tập, giảng dạy.

Tiêu chí thứ hai là dựa trên lĩnh vực đào tạo, các trường có ngành đào tạo bổ sung cho nhau, khi sáp nhập sẽ tạo thành một đại học đa lĩnh vực; tránh sáp nhập cơ học giữa các trường có ngành nghề trùng lặp quá nhiều, dễ dẫn đến xung đột và dư thừa nhân lực.

Việc sắp xếp lại hệ thống giáo dục đại học công lập cần dựa trên các tiêu chí khoa học để đảm bảo hiệu quả.

Việc sắp xếp lại hệ thống giáo dục đại học công lập cần dựa trên các tiêu chí khoa học để đảm bảo hiệu quả.

Tiêu chí thứ ba là dựa trên năng lực nghiên cứu và đào tạo, nên sáp nhập các trường cùng sứ mệnh nhưng có thế mạnh khác nhau. Tiêu chí thứ tư là dựa trên quy mô và hiệu quả hoạt động, các trường có quy mô quá nhỏ (dưới 3.000 sinh viên) nên xem xét sáp nhập để tận dụng nguồn lực; những trường có hiệu quả hoạt động thấp, chất lượng chưa bảo đảm cũng nên nằm trong diện sáp nhập.

Tiêu chí thứ năm là dựa trên tính chiến lược quốc gia. Trong đó, ưu tiên hình thành những đại học nghiên cứu đẳng cấp khu vực và quốc tế ở các trung tâm kinh tế-chính trị-xã hội của đất nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng; mỗi vùng kinh tế nên có ít nhất một đại học đa lĩnh vực, định hướng ứng dụng, quy mô đủ lớn, vừa phục vụ nhu cầu nhân lực địa phương, vừa từng bước hội nhập quốc tế. Mỗi tỉnh nên có ít nhất một đại học đa lĩnh vực kiểu “đại học cộng đồng”, có quy mô hợp lý, vừa phục vụ nhu cầu nhân lực trực tiếp cho tỉnh, vừa góp phần nâng cao mặt bằng dân trí của cộng đồng địa phương.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng cũng cho rằng, trong quá trình sáp nhập, nếu chỉ giảm đầu mối mà không đổi mới quản trị và cơ chế tự chủ, thì trường có quy mô lớn hơn chưa chắc có chất lượng cao hơn. Hướng đi phù hợp nhất là lấy sáp nhập theo địa bàn làm nền tảng nhưng kết hợp với liên kết theo ngành nghề. Các ngành đặc thù của địa phương cần tiếp tục được duy trì và phát triển thành thế mạnh của phân hiệu hoặc khoa chuyên sâu, đồng thời xây dựng mạng lưới chia sẻ chương trình đào tạo, giảng viên và phòng thí nghiệm giữa các trường.

"Mô hình tối ưu, theo tôi, là sáp nhập theo địa bàn làm chính, kết hợp liên kết theo ngành nghề; chuyển một số trường nhỏ thành phân hiệu có quyền tự chủ tương đối cao; đồng thời lấy chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và đóng góp cho sự phát triển địa phương làm thước đo cuối cùng của quá trình tái cấu trúc", PGS.TS Đỗ Văn Dũng nêu ý kiến.

Huyền Thanh

Nguồn CAND: https://cand.vn/sap-xep-lai-he-thong-dai-hoc-cong-lap-de-co-nhung-dau-tau-that-su-post818454.html