Sầu riêng Việt Nam: Không mở rộng diện tích, chuyển trọng tâm sang chất lượng
Chính phủ yêu cầu các địa phương quản lý chặt diện tích sầu riêng, không tiếp tục mở rộng mà tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Cùng với việc triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, ngành sầu riêng đang được định hướng tổ chức lại theo hướng kiểm soát chặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường bền vững.

Sầu riêng Việt Nam đang được định hướng phát triển theo chiều sâu, tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và hiệu quả thay vì tiếp tục mở rộng diện tích.
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 421/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.
Theo thông báo, công tác quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và hoạt động kiểm nghiệm sầu riêng phục vụ xuất khẩu thời gian qua đã được Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm chỉ đạo theo hướng ngày càng chặt chẽ, bài bản. Quy trình cấp mã số từng bước được hoàn thiện, thời gian xử lý được rút ngắn, đồng thời hệ thống phòng kiểm nghiệm được mở rộng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.
Đáng chú ý, ngày 31/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Nghị quyết có hiệu lực ngay từ ngày ban hành. Sau đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai nhằm tháo gỡ những vướng mắc, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản, trong đó có sầu riêng.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo hướng tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm; giảm thời gian, chi phí tuân thủ và gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc. Việc tiền kiểm chỉ thực hiện trong trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu.
Việc kịp thời ban hành và triển khai Nghị quyết được đánh giá là một bước tháo gỡ quan trọng đối với những vướng mắc liên quan đến mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. Tuy nhiên, trong bối cảnh sầu riêng Việt Nam bước vào mùa vụ tiêu thụ cao điểm, yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và truy xuất nguồn gốc từ các thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe, ngành hàng vẫn cần những giải pháp căn cơ và lâu dài hơn.
Không chạy theo mở rộng diện tích
Một trong những định hướng quan trọng được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đặt ra là tổ chức lại vùng nguyên liệu sầu riêng trên cơ sở đánh giá đầy đủ điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu, hạ tầng và khả năng liên kết thị trường.
Các khu vực không phù hợp về điều kiện tự nhiên, nguồn nước và cơ sở hạ tầng phải hạn chế mở rộng diện tích tự phát. Thay vào đó, các địa phương cần tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa, gắn sản xuất với sơ chế, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Đối với các tỉnh, thành phố có diện tích sầu riêng, Chính phủ yêu cầu rà soát, quản lý chặt chẽ diện tích, không mở rộng diện tích sầu riêng, tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất trên diện tích hiện có; đồng thời tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi và nhu cầu của thị trường.
Đây là yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh sầu riêng là ngành hàng phát triển nhanh, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ phát triển nóng nếu diện tích tăng không gắn với khả năng tiêu thụ, điều kiện sản xuất và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường.
Cùng với việc tổ chức lại vùng nguyên liệu, Chính phủ khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu đầu tư trở lại cho vùng sản xuất, hỗ trợ người dân về kỹ thuật, thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc và bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn của từng thị trường.
Một nhiệm vụ khác được đặt ra là từng bước xây dựng thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam, gắn với chỉ dẫn địa lý, đặc trưng chất lượng và lợi thế mùa vụ.
Như vậy, dư địa tăng trưởng của ngành sầu riêng thời gian tới không chỉ được nhìn ở số lượng cây trồng hay sản lượng thu hoạch, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng vùng nguyên liệu, tính ổn định của chuỗi liên kết và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Kiểm soát chất lượng ngay từ vùng trồng
Bên cạnh quản lý diện tích, vấn đề an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc tiếp tục được đặt ở vị trí trọng tâm.
Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành hướng dẫn người sản xuất thực hiện quy trình canh tác an toàn, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Chương trình giám sát an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật đối với sầu riêng xuất khẩu phải được chủ động xây dựng và triển khai; đồng thời thiết lập hệ thống giám sát, cảnh báo sớm dịch hại cây trồng để kịp thời phát hiện, khoanh vùng và xử lý các nguy cơ phát sinh.
Đặc biệt, Chính phủ yêu cầu quản lý nghiêm đối với sản phẩm sầu riêng có nguồn gốc từ vùng trồng bị cảnh báo nhiễm Cadimi; kiên quyết không cấp phép xuất khẩu và áp dụng các biện pháp chế tài đối với trường hợp vi phạm.
Yêu cầu này cho thấy kiểm soát chất lượng không thể chỉ tập trung ở khâu cuối trước khi hàng hóa xuất khẩu mà phải được thực hiện xuyên suốt, bắt đầu ngay từ đất, nước, vật tư đầu vào, quy trình canh tác cho đến thu hoạch, đóng gói và kiểm nghiệm.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cập nhật, đồng bộ dữ liệu và kết nối liên thông với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia. Đồng thời, tiếp tục nâng cao năng lực và số lượng cơ sở kiểm nghiệm nông sản phù hợp với yêu cầu của Trung Quốc cũng như các nước nhập khẩu khác.
Đối với thị trường Trung Quốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục làm việc với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) nhằm đẩy nhanh tiến độ công nhận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và phòng kiểm nghiệm, đồng thời thống nhất quy trình kiểm tra thông quan đối với sầu riêng Việt Nam theo hướng thuận lợi, thông thoáng nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chỉ đạo các Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quatest 1, Quatest 2, Quatest 3 cùng các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành trực thuộc khẩn trương khôi phục năng lực, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và đăng ký kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc ngay trong tháng 8/2026. Các đơn vị cũng phải tổng hợp, chia sẻ dữ liệu về những phòng kiểm nghiệm đủ năng lực phân tích chỉ tiêu Cadimi và Vàng O.
Mở rộng chế biến, đa dạng hóa thị trường
Cùng với bảo đảm chất lượng sản phẩm tươi, Chính phủ định hướng tăng đầu tư cho khâu sơ chế, bảo quản và chế biến tại các vùng sản xuất tập trung.
Các doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư vào chế biến nhằm nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến, kéo dài thời gian bảo quản và tạo thêm giá trị cho sầu riêng. Đây cũng là giải pháp quan trọng để giảm sức ép tiêu thụ trong thời điểm chính vụ và hạn chế phụ thuộc quá lớn vào một phân khúc sản phẩm.
Về thị trường, Phó Thủ tướng yêu cầu tiếp tục đàm phán mở cửa và gia tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng. Đối với sầu riêng đông lạnh, định hướng được đặt ra là mở rộng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Australia và một số thị trường khác.
Hoạt động xúc tiến thương mại cũng cần được đẩy mạnh tại Anh, Pháp, Hà Lan, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất; đồng thời tăng cường thông tin, dự báo để định hướng sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường.
Bộ Công Thương được giao chỉ đạo hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài chủ động cập nhật chính sách thương mại, rào cản kỹ thuật và yêu cầu mới của từng nước nhập khẩu. Các thông tin cảnh báo phải được chuyển đến doanh nghiệp kịp thời để chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kiểm nghiệm và điều tiết tiến độ giao hàng, tránh tình trạng hàng hóa tập trung cùng thời điểm gây quá tải cho hệ thống kiểm nghiệm và cửa khẩu.
Trong bối cảnh nhu cầu tại một số thị trường truyền thống chưa ổn định, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, cùng áp lực về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm ngày càng lớn, việc đa dạng hóa thị trường được xem là yêu cầu cần thiết để giảm rủi ro cho chuỗi sầu riêng Việt Nam.
Gắn trách nhiệm địa phương với vùng nguyên liệu và xuất khẩu
Để Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP đi vào thực tế, Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức triển khai hiệu quả; kịp thời hỗ trợ, hướng dẫn địa phương tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng phù hợp với điều kiện thực tế; chuẩn hóa dữ liệu vùng nguyên liệu, đầu tư hạ tầng sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics; đồng thời chủ động tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất.
Đáng chú ý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra ách tắc trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, hoạt động kiểm nghiệm hoặc làm ảnh hưởng đến xuất khẩu sầu riêng.
Cùng với đó, Bộ Tài chính được yêu cầu tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về thuế, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu nông sản. Bộ Công an chỉ đạo lực lượng công an địa phương tăng cường nắm tình hình, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm nghiệm, nhất là tại khu vực cửa khẩu, không để tác động tiêu cực tới sản xuất và xuất khẩu.
Những yêu cầu trên cho thấy cách tiếp cận đối với ngành sầu riêng đang chuyển dần từ mục tiêu tăng nhanh sản lượng sang quản trị toàn bộ chuỗi giá trị. Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, hệ thống kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và thị trường tiêu thụ không còn là những khâu tách rời mà phải được quản lý đồng bộ.
Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP để tháo gỡ thủ tục, song song với yêu cầu không tiếp tục mở rộng diện tích sầu riêng, cũng thể hiện rõ định hướng phát triển mới: tạo thuận lợi cho sản xuất và xuất khẩu nhưng không đánh đổi chất lượng để chạy theo tăng trưởng nóng.
Trong giai đoạn tới, năng lực cạnh tranh của sầu riêng Việt Nam sẽ không chỉ được quyết định bởi sản lượng hay lợi thế mùa vụ, mà còn nằm ở khả năng kiểm soát chất lượng từ vùng trồng, minh bạch nguồn gốc, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và duy trì những thị trường xuất khẩu ổn định. Đây cũng là nền tảng để ngành hàng sầu riêng nâng cao giá trị và phát triển bền vững hơn.
