Siết chặt quản lý rủi ro rửa tiền qua giao dịch tài sản mã hóa
Chiều 24/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn. Ảnh: Media Quốc hội.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước; Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1/12/2026.
Trước khi Quốc hội thông qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đã trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu dự thảo Luật.
Liên quan đến Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, một nội dung được bổ sung là quy định Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thanh tra, giám sát các đối tượng thanh tra, giám sát theo quy định của pháp luật. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết quy định này nhằm xác định rõ các tổ chức tín dụng được áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải chịu sự thanh tra, giám sát.
Liên quan việc bãi bỏ quy định về chức năng kiểm tra của Bộ Tài chính tại Luật Ngân hàng Nhà nước, ông Phạm Đức Ấn khẳng định việc này không ảnh hưởng đến chức năng kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tài chính. Pháp luật hiện hành đã có các cơ chế giám sát khác thay thế như Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước, do đó việc sửa đổi không làm phát sinh khoảng trống trong quản lý và kiểm tra.
Với Luật Phòng, chống rửa tiền, nội dung mới đáng chú ý nhất của Luật là bổ sung "dịch vụ tài sản mã hóa" vào nhóm đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, Luật bổ sung quy định riêng về các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực này.
Theo đó, luật quy định cụ thể 15 dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa cần theo dõi:
Chia nhỏ giao dịch tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết khách hàng hoặc về báo cáo theo quy định hoặc thực hiện nhiều giao dịch tài sản mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng.
Phát sinh một trong các trường hợp sau đây mà không phù hợp với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng: nạp, giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi thiết lập quan hệ khách hàng, nạp lần đầu với giá trị lớn ngay sau khi mở tài khoản tài sản mã hóa hoặc tài khoản tài sản mã hóa không hoạt động trong thời gian dài phát sinh giao dịch có giá trị lớn hoặc tần suất bất thường.
Chuyển ngay tài sản mã hóa tới nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành chưa đầy đủ khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền,...
Chuyển đổi tài sản mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh doanh, đầu tư hợp lý hoặc chuyển đổi tài sản mã hóa sang tiền pháp định trong điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ hoặc chịu mức phí giao dịch cao bất thường so với tình trạng mạng lưới chuỗi khối tại thời điểm giao dịch.
Nhiều tài khoản hoặc nhiều địa chỉ ví không có mối liên hệ rõ ràng cùng chuyển tài sản mã hóa về cùng một địa chỉ ví hoặc một tài khoản chuyển tài sản mã hóa tới nhiều địa chỉ ví khác nhau với giá trị tương đương nhau liên tiếp trong thời gian ngắn.
Thực hiện giao dịch tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc thực hiện nhiều lần chuyển đổi từ tài sản mã hóa trên sổ cái phân tán công khai, minh bạch sang tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, làm gián đoạn khả năng truy vết giao dịch.
Giao dịch tài sản mã hóa từ các địa chỉ ví hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đã được cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc cảnh báo có liên quan đến trang mạng ẩn danh giao dịch hàng hóa, dịch vụ bất hợp pháp, hoạt động tống tiền, lừa đảo, cờ bạc trực tuyến bất hợp pháp, tài sản bị đánh cắp hoặc hoạt động phạm tội khác.
Khách hàng truy cập nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa qua công cụ cho phép ẩn danh danh tính hoặc ẩn danh địa chỉ giao thức Internet hoặc nhiều tài khoản tài sản mã hóa đứng tên các danh tính khác nhau nhưng có dấu hiệu được vận hành từ cùng một thiết bị hoặc địa chỉ giao thức Internet.
Khách hàng từ chối, trì hoãn cung cấp tài liệu nhận biết khách hàng hoặc thông tin về nguồn gốc tài sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo hoặc thông tin không nhất quán hoặc không thể giải thích hợp lý về mục đích giao dịch, nguồn gốc tài sản và mối quan hệ với bên đối tác.
Địa chỉ ví tài sản mã hóa của khách hàng xuất hiện trên các nguồn thông tin công khai có liên quan đến hoạt động bất hợp pháp hoặc tài sản mã hóa nạp, rút có lịch sử qua các cầu nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.
Khách hàng có dấu hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo, bao gồm cả trường hợp khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực hiện giao dịch với tần suất và giá trị lớn không tương xứng với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng hoặc thực hiện giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.
Nguồn tài sản của khách hàng chủ yếu hình thành từ các đợt phát hành tài sản mã hóa lần đầu thiếu minh bạch hoặc có dấu hiệu gian lận hoặc tài sản mã hóa của khách hàng có nguồn gốc trực tiếp từ các dịch vụ trộn giao dịch hoặc từ các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thiếu kiểm soát về phòng, chống rửa tiền.
Giao dịch với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ, bao gồm trường hợp hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa có khung pháp lý về tài sản mã hóa,...
Nội dung ghi chú kèm theo giao dịch tài sản mã hóa có dấu hiệu liên quan đến hoạt động bất hợp pháp hoặc khách hàng thường xuyên thay đổi các thông tin nhận dạng và xác thực quan trọng không phù hợp với hành vi sử dụng thông thường hoặc thực hiện giao dịch từ địa chỉ giao thức Internet không nhất quán với thông tin khách hàng đã cung cấp hoặc nhiều lần mở tài khoản tài sản mã hóa từ cùng một địa chỉ giao thức Internet.
Khách hàng thực hiện giao dịch thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trụ sở hoặc hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành chưa đầy đủ khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền,...
Luật mới cũng quy định rõ trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành trong hoạt động phòng, chống rửa tiền và nguyên tắc thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống rửa tiền trên cơ sở rủi ro.
Theo đó, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền của đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của các Bộ không có thanh tra bộ, trừ trách nhiệm thanh tra của Bộ Tài chính. Bộ Tài chính có trách nhiệm thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực tài sản mã hóa khi được Chính phủ giao; lĩnh vực chứng khoán.
Luật Các tổ chức tín dụng bổ sung quy định ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm. Chính phủ cho biết, sẽ chỉ đạo các cơ quan có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm của các bên, điều kiện, tiêu chí, nội dung hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm tại các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán, doanh nghiệp (liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và riêng lẻ).
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Luật phòng, chống rửa tiền và Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành từ 1/12/2026.
