Siết chuẩn đào tạo khối ngành sức khỏe và pháp luật

Lần đầu tiên, Bộ GD&ĐT đề xuất bổ sung các tiêu chí đặc thù đối với cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe và pháp luật.

Các tiêu chí này tập trung vào điều kiện thực hành, đội ngũ giảng viên và chuẩn đầu ra nghề nghiệp. Đề xuất được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và xã hội.

Đề xuất bộ tiêu chí đặc thù

Đề xuất trên nằm trong dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học được Bộ GD&ĐT công bố lấy ý kiến đến ngày 1/7. Theo dự thảo, đối với lĩnh vực sức khỏe, tỉ lệ sinh viên được bố trí cơ sở thực hành theo chương trình phải đạt tuyệt đối 100%.

Bên cạnh đó, tối thiểu 80% giảng viên thực hành phải sở hữu chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực, ít nhất 30% giảng viên kiêm nhiệm đến từ chính các cơ sở thực hành và 100% chương trình đào tạo phải có hợp đồng liên kết ổn định với cơ sở thực hành trong thời gian ít nhất 5 năm.

Giờ thực hành của sinh viên Ngành Khoa học và Công nghệ Y khoa, Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội.

Giờ thực hành của sinh viên Ngành Khoa học và Công nghệ Y khoa, Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội.

Đối với nhóm ngành y khoa, y học cổ truyền và phục hồi chức năng, dự thảo đề xuất mỗi trường phải đảm bảo tỉ lệ tối thiểu là 10 sinh viên/giường bệnh thực hành. Đi kèm với đó là yêu cầu trên 95% sinh viên được thực hành lâm sàng trên người bệnh thực, toàn bộ người học phải tham gia trực lâm sàng và 70% giảng viên lâm sàng có trình độ sau đại học trở lên.

Yêu cầu này cũng xuất hiện tương tự ở nhóm ngành răng hàm mặt với định mức 10 người học/ghế nha khoa và 90% sinh viên được điều trị trên bệnh nhân thực.

Ở nhóm điều dưỡng và hộ sinh, yêu cầu đặt ra phải có 30% điều dưỡng hoặc hộ sinh trưởng tại cơ sở thực hành trực tiếp tham gia giảng dạy, đảm bảo toàn bộ sinh viên hoàn thành nghĩa vụ chăm sóc người bệnh thực tế.

Đối với dược học, y tế công cộng và kĩ thuật y học, dự thảo cũng đưa ra các chỉ tiêu nghiêm ngặt về tỉ lệ giảng viên có kinh nghiệm thực tế tối thiểu 12 tháng, yêu cầu sinh viên phải được làm việc tại nhà thuốc, nhà máy, các trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) hoặc thực hành trên hệ thống thiết bị thực, thiết bị mô phỏng chuẩn hóa.

Tán thành với những đề xuất trên, GS.TS Trần Diệp Tuấn - Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh nhìn nhận, chủ trương siết chặt đào tạo các ngành đặc thù, đặc biệt là ngành y khoa là phù hợp với thực tiễn khách quan.

Ông cho rằng, việc mở ngành đào tạo bác sĩ phải được thẩm định nghiêm ngặt ở mức cao nhất theo các tiêu chí đặc thù, thay vì áp dụng chung một bộ tiêu chuẩn của các lĩnh vực khác.

Bên cạnh quy trình kiểm định, GS.TS Trần Diệp Tuấn nhấn mạnh đến điều kiện kiên quyết để mở ngành y là phải có bệnh viện thực hành và đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ chuẩn. Thực tế, nhiều cơ sở hiện nay đang làm sai lệch bản chất đào tạo khi chủ yếu ký hợp đồng với bác sĩ bệnh viện để đối phó.

Dù bác sĩ bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn thực hành, nhưng GS.TS Trần Diệp Tuấn cho rằng, họ vẫn không thể thay thế đội ngũ giảng viên đại học, những người chịu trách nhiệm xây dựng nền tảng lí luận khoa học vững chắc cho sinh viên. Do đó, cần rà soát và đánh giá lại toàn diện thực trạng các trường đang đào tạo ngành y hiện nay để xem đã đạt chuẩn hay chưa.

Tháo “điểm nghẽn” cho đào tạo luật

Không chỉ siết chặt các tiêu chuẩn, tiêu chí đối với khối ngành sức khỏe, dự thảo Thông tư của Bộ GD&ĐT cũng lần đầu tiên đưa ra bộ chỉ số đặc thù đối với các cơ sở đào tạo lĩnh vực pháp luật, theo hướng tăng cường tính thực tiễn và kỹ năng hành nghề cho sinh viên.

Chỉ ra những “điểm nghẽn” của đào tạo luật hiện nay, TS Hồ Ngọc Hiển – Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Mở Hà Nội nhận thấy, chương trình còn nặng lý thuyết, chậm cập nhật thực tiễn; phương pháp giảng dạy chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ; năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ của giảng viên còn chưa đồng đều.

Từ đó, TS Hồ Ngọc Hiển đặt vấn đề về đổi mới mang tính hệ thống; trong đó chú trọng đến đổi mới chương trình gắn với chuẩn đầu ra số; đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng lấy người học làm trung tâm; gắn đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động pháp lý trong kỷ nguyên số.

Sinh viên Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh trong ngày nhận bằng tốt nghiệp. Ảnh/Internet.

Sinh viên Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh trong ngày nhận bằng tốt nghiệp. Ảnh/Internet.

Tiếp cận vấn đề từ góc nhìn liên ngành, PGS.TS Hoàng Công Gia Khánh - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TPHCM) cho rằng, sự phát triển của công nghệ và mô hình kinh doanh mới làm xuất hiện nhiều vấn đề pháp lý tại vùng giao thoa giữa luật với công nghệ, dữ liệu và quản trị. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo luật phải linh hoạt hơn, tích hợp kiến thức liên ngành và chú trọng năng lực số.

Chia sẻ những thách thức thực tiễn trong xây dựng chương trình đào tạo, PGS.TS. Hoàng Công Gia Khánh đặc biệt nhấn mạnh đến cấu trúc chương trình, năng lực hội nhập của sinh viên luật và cách tiếp cận công nhận tương đương trong đào tạo quốc tế. Từ đó, nhấn mạnh nhu cầu thiết kế chương trình đào tạo theo hướng mở, thích ứng nhưng vẫn bảo đảm nền tảng vững chắc của luật học.

Theo yêu cầu của dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, tối thiểu 30% học phần chuyên ngành phải có hoạt động thực hành nghề luật như phiên tòa giả định, mô phỏng tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc các hình thức thực hành nghề nghiệp tương đương.

Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu 100% sinh viên luật phải tham gia thực tập hoặc thực hành nghề nghiệp trước khi tốt nghiệp. Các hoạt động này có thể được tổ chức tại tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, tổ chức hành nghề luật sư, văn phòng công chứng, trung tâm trợ giúp pháp lý hoặc các cơ quan, đơn vị phù hợp với chương trình đào tạo.

Dự thảo đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với đội ngũ giảng viên. Theo đó, ít nhất 30% giảng viên giảng dạy chuyên ngành luật phải có kinh nghiệm thực tiễn, từng hoặc đang tham gia hoạt động xét xử, kiểm sát, luật sư, công chứng, trọng tài hoặc các công việc pháp lý khác.

Ngoài ra, ít nhất một nửa số học phần chuyên ngành phải sử dụng án lệ, bản án, hồ sơ vụ việc hoặc các tình huống pháp lý thực tiễn trong quá trình giảng dạy. Tối thiểu 70% chương trình đào tạo hoặc hoạt động đào tạo của các trường luật phải có sự hợp tác thường xuyên với các cơ quan tư pháp và tổ chức hành nghề luật như tòa án, viện kiểm sát, văn phòng luật sư, cơ quan pháp chế và các tổ chức nghề nghiệp pháp luật.

Đại diện Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, lần đầu tiên, dự thảo bổ sung các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe. Việc bổ sung các chỉ số riêng giúp hoạt động đánh giá gắn chặt hơn với yêu cầu năng lực nghề nghiệp, chuẩn đầu ra và trách nhiệm xã hội của từng lĩnh vực đào tạo.

Dự thảo cũng hoàn thiện cơ chế áp dụng đối với đại học quốc gia, đại học vùng, cơ sở giáo dục đại học có trường thành viên, phân hiệu hoặc đào tạo đa lĩnh vực; làm rõ cơ chế phân bổ nguồn lực dùng chung và nguyên tắc chống tính trùng dữ liệu trong quá trình đánh giá.

Những điều chỉnh này giúp kết quả đánh giá phản ánh thực chất hơn chất lượng hoạt động của từng đơn vị, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy quyền tự chủ và nâng cao năng lực quản trị.

Dự thảo cũng thiết lập cơ chế rà soát, cập nhật Chuẩn cơ sở giáo dục đại học định kỳ nhằm bảo đảm hệ thống giáo dục đại học Việt Nam từng bước tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

Minh Phong

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/siet-chuan-dao-tao-khoi-nganh-suc-khoe-va-phap-luat-post783150.html