Siết tiêu chuẩn chất lượng đào tạo y khoa
Bộ GD&ĐT vừa chính thức công bố dự thảo thông tư ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học (ĐH) với nhiều điều chỉnh. Đây là lần đầu tiên cơ quan quản lí đưa các chỉ số đặc thù vào bộ chuẩn chung, tập trung mạnh mẽ vào hai lĩnh vực cốt lõi là pháp luật và sức khỏe.
Theo dự thảo, tại khoản 7 điều 6, các cơ sở đào tạo khối ngành đặc thù ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung sẽ phải vượt qua các “hàng rào kĩ thuật” riêng biệt, hầu hết liên quan trực tiếp đến cơ hội cọ xát thực tế của người học. Đối với lĩnh vực sức khỏe, tỉ lệ sinh viên được bố trí cơ sở thực hành theo chương trình phải đạt tuyệt đối 100%.
Bên cạnh đó, tối thiểu 80% giảng viên thực hành phải sở hữu chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực, ít nhất 30% giảng viên kiêm nhiệm đến từ chính các cơ sở thực hành, và 100% chương trình đào tạo phải có hợp đồng liên kết ổn định với cơ sở thực hành trong thời gian ít nhất 5 năm.

Sinh viên y dược thực hành tại phòng thí nghiệm. Ảnh: NGHIÊM HUÊ
Đáng chú ý, dự thảo đã bóc tách và áp các chỉ số định lượng cụ thể cho từng nhóm ngành chuyên sâu. Đối với nhóm ngành y khoa, y học cổ truyền và phục hồi chức năng, mỗi trường phải đảm bảo tỉ lệ tối thiểu là 10 sinh viên/giường bệnh thực hành. Đi kèm với đó là yêu cầu trên 95% sinh viên được thực hành lâm sàng trên người bệnh thực, toàn bộ người học phải tham gia trực lâm sàng, và 70% giảng viên lâm sàng có trình độ sau đại học trở lên.
Một điểm mới mang tính đột phá khác của dự thảo lần này là việc chuyển dịch phương thức quản lí. Thay vì dựa vào các báo cáo hành chính giấy tờ mang tính đối phó như trước, Bộ GD&ĐT sẽ tăng cường quản trị hoàn toàn dựa trên dữ liệu. Mọi thông tin về người học, đội ngũ giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất và kết quả hoạt động sẽ được đồng bộ theo thời gian thực trên hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS) để phục vụ công tác giám sát.
Sự siết chặt này cũng xuất hiện tương tự ở nhóm ngành răng hàm mặt với định mức 10 người học/ghế nha khoa và 90% sinh viên được điều trị trên bệnh nhân thực. Ở nhóm điều dưỡng và hộ sinh, yêu cầu đặt ra là phải có 30% điều dưỡng hoặc hộ sinh trưởng tại cơ sở thực hành trực tiếp tham gia giảng dạy, đảm bảo toàn bộ sinh viên hoàn thành nghĩa vụ chăm sóc người bệnh thực tế. Đối với dược học, y tế công cộng và kĩ thuật y học, dự thảo cũng đưa ra các chỉ tiêu nghiêm ngặt về tỉ lệ giảng viên có kinh nghiệm thực tế tối thiểu 12 tháng, yêu cầu sinh viên phải được làm việc tại nhà thuốc, nhà máy, các trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) hoặc thực hành trên hệ thống thiết bị thực, thiết bị mô phỏng chuẩn hóa.
Cần “chốt chặn” hai đầu
Đánh giá về những điều chỉnh này, PGS.TS.BS Ngô Mạnh Hùng, Trưởng Khoa Phẫu thuật Thần kinh tại Bệnh viện ĐH Y Dược cơ sở Linh Đàm (ĐH Quốc gia Hà Nội) đồng thời là Phó Trưởng Bộ môn Ngoại Thần kinh tại Trường ĐH Y Dược, khẳng định quy định 10 sinh viên/giường bệnh là bước đi rất tiến bộ, hợp lí và vô cùng cấp thiết. Từ thực tế từng công tác tại Bệnh viện Việt Đức, nơi mỗi năm đón nhận hàng nghìn lượt học viên đổ về thực tập lâm sàng, ông nhìn nhận xu hướng các trường tư thục và đa ngành ồ ạt xin mở ngành y khoa đang khiến xã hội lo ngại về chất lượng đầu ra. Việc dựng lên các hàng rào kĩ thuật định lượng như trên sẽ buộc các trường phải có trách nhiệm hơn trong việc tìm kiếm, kí kết với các cơ sở thực hành đủ năng lực, đồng thời thúc đẩy các bệnh viện tự nâng cấp chuyên môn nếu muốn tiếp nhận người học.
Tuy nhiên, vị chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật thần kinh cũng lưu ý, để quy định này đạt hiệu quả thực chất và tránh các kẽ hở, cơ quan quản lí cần kiểm soát song song cả hai đầu, bao gồm số lượng sinh viên/giường bệnh và số lượng sinh viên/bác sĩ hướng dẫn. Đặc biệt, Bộ GD&ĐT cần tính toán chi tiết đến yếu tố đặc thù của từng tuyến bệnh viện. Thực tế cho thấy các bệnh viện trung ương có quy mô giường lớn và mặt bệnh đa dạng sẽ giúp ích rất nhiều cho tay nghề sinh viên, trong khi các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện thường có ít mô hình bệnh tật và hạn chế hơn. Do đó, việc cào bằng định mức mà thiếu sự đánh giá sát sao về chất lượng mặt bệnh tại từng cơ sở thực hành có thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của đội ngũ y bác sĩ tương lai.
GS.TS Trần Diệp Tuấn, Trường ĐH Y Dược TPHCM, đồng tình với chủ trương siết chặt đào tạo các ngành đặc thù, đặc biệt là ngành y khoa, trong bối cảnh việc cấp phép mở ngành quá dễ dàng thời gian qua đang khiến dư luận hoài nghi về năng lực hành nghề của sinh viên tốt nghiệp. Để giải quyết triệt để tình trạng này, ông đề xuất việc mở ngành đào tạo bác sĩ phải được thẩm định nghiêm ngặt ở mức cao nhất theo các tiêu chí đặc thù, thay vì áp dụng chung một bộ tiêu chuẩn của các lĩnh vực khác.
Bên cạnh quy trình kiểm định, GS.TS Trần Diệp Tuấn nhấn mạnh điều kiện kiên quyết để mở ngành y là phải có bệnh viện thực hành và đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ chuẩn. Ông thẳng thắn chỉ ra thực trạng nhiều cơ sở hiện nay đang làm sai lệch bản chất đào tạo khi chủ yếu ký hợp đồng với bác sĩ bệnh viện để đối phó. Dù bác sĩ bệnh viện đóng vai trò rất quan trọng trong việc hướng dẫn thực hành, họ vẫn không thể thay thế đội ngũ giảng viên đại học, những người chịu trách nhiệm xây dựng nền tảng lí luận khoa học vững chắc cho sinh viên. Từ những bất cập đó, ông kiến nghị cần rà soát và đánh giá lại toàn diện thực trạng các trường đang đào tạo ngành y hiện nay để xem đã thực sự đạt chuẩn hay chưa.
Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/siet-tieu-chuan-chat-luong-dao-tao-y-khoa-post1854697.tpo













