Siết trách nhiệm nền tảng số, ngăn chặn hàng giả trong thương mại điện tử
Thương mại điện tử đang mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế số Việt Nam, đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng nhanh hơn, rộng hơn và tiết kiệm hơn.

Các nền tảng thương mại điện tử hiện có tại Việt Nam. Ảnh: Văn Xuyên/BNEWS/TTXVN
Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của các nền tảng số, những hành vi kinh doanh phi pháp cũng đang dịch chuyển mạnh lên môi trường trực tuyến. Hàng giả, hàng nhái, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quảng cáo sai sự thật và chiêu thức lừa dối người tiêu dùng ngày càng tinh vi, lợi dụng tốc độ lan truyền của công nghệ để mở rộng phạm vi hoạt động.
Thực tế cho thấy, chỉ trong vài phút của phiên livestream, sản phẩm không rõ nguồn gốc có thể tiếp cận hàng chục nghìn người mua; gian hàng vi phạm bị khóa có thể nhanh chóng xuất hiện trở lại dưới tên gọi khác.
Không gian mạng đang mang lại cơ hội phát triển chưa từng có cho thương mại điện tử nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức chưa từng có với quản lý nhà nước, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền lợi người tiêu dùng.
Trong bối cảnh Chính phủ, Bộ Công Thương và các lực lượng chức năng đang triển khai nhiều giải pháp mạnh nhằm thực hiện Công điện số 38/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, câu chuyện làm sạch thị trường trực tuyến không còn đơn thuần là xử lý những vụ việc vi phạm riêng lẻ.
Điều này đã trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo vệ niềm tin người tiêu dùng, bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của kinh tế số Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Tấn Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), mức độ nguy hiểm của vi phạm hiện nay không còn nằm ở số lượng mà nằm ở khả năng tàng hình và biến hóa cực nhanh.
Nếu ở thương mại truyền thống, hàng giả thường gắn với cửa hàng, kho bãi hay địa điểm kinh doanh cụ thể nhưng trên môi trường số, một gian hàng có thể được tạo lập chỉ trong vài phút, tiếp cận hàng chục nghìn khách hàng qua một phiên livestream rồi biến mất ngay sau đó.
Hơn nữa, người bán không cần tên thật, địa chỉ cố định, thậm chí mặt bằng kinh doanh. Đáng lo ngại hơn, vi phạm trên thương mại điện tử không chỉ nhanh mà còn phân tán và mang tính xuyên biên giới. Máy chủ có thể đặt ở nước ngoài, người bán ẩn danh, kho hàng ở địa phương khác, trong khi người mua trải rộng trên cả nước.
Theo ông Nguyễn Tấn Phong, bốn lỗ hổng lớn khiến hàng giả và gian lận thương mại tồn tại dai dẳng trên môi trường trực tuyến là mở gian hàng chỉ cần số điện thoại hoặc email khiến đối tượng vi phạm có thể nhanh chóng tạo tài khoản mới sau khi bị phát hiện và xử lý. Cùng đó, sự tách rời giữa hoạt động quảng cáo và giao dịch.
Nhiều đối tượng công khai giới thiệu sản phẩm trên mạng xã hội nhưng lại chuyển khách hàng sang ứng dụng nhắn tin riêng để chốt đơn, khiến dữ liệu giao dịch không được lưu trữ tập trung, gây khó khăn cho việc truy vết.
Mặt khác, đặc thù của livestream bán hàng với nội dung được truyền tải bằng lời nói, hàng thật và hàng giả có thể xuất hiện đan xen, trong khi phiên phát sóng thường kết thúc trước khi cơ quan chức năng kịp thu thập chứng cứ.
Ngoài ra chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe và dữ liệu quản lý còn phân tán giữa sàn thương mại điện tử, cơ quan thuế, hải quan và lực lượng quản lý thị trường. Khi lợi nhuận thu được lớn hơn nhiều so với mức xử phạt, đối tượng vẫn có động lực để tiếp tục vi phạm.
Ông Phạm Ngọc Sơn, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường Đà Nẵng cho biết, chỉ trong đợt cao điểm từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026, lực lượng chức năng đã xử lý 298 vụ vi phạm; trong đó, có 89 vụ liên quan đến hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Nhiều đối tượng hiện hoạt động theo kiểu du kích số, liên tục thay đổi tài khoản bán hàng, sử dụng nhiều số điện thoại, địa chỉ giao nhận khác nhau và tận dụng dịch vụ trung gian để che giấu thông tin. Do đó, một gian hàng bị khóa có thể nhanh chóng được thay thế bằng một tài khoản mới với phương thức hoạt động tương tự.
Bà Hoàng Mỹ Tình, đại diện thương hiệu mỹ phẩm Miti Cosmetics tại Đà Nẵng chia sẻ, nhiều đối tượng đã sử dụng hình ảnh sản phẩm, logo và nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp để bán hàng giá rẻ trên sàn thương mại điện tử. Nguy hiểm nhất không phải mất vài đơn hàng mà là mất niềm tin khách hàng.
Ở góc độ người tiêu dùng, những rủi ro này đang làm thay đổi hành vi mua sắm. Chị Hoàng Thu Phương (quận Cầu Giấy, Hà Nội) thông tin đã từng mua một số sản phẩm chăm sóc da được quảng cáo là hàng chính hãng trong một phiên livestream với mức giá giảm sâu.
Tuy nhiên, sau khi nhận hàng mới phát hiện bao bì có nhiều dấu hiệu bất thường, thông tin nguồn gốc không rõ ràng. Dù được hoàn tiền sau quá trình khiếu nại nhưng trải nghiệm này khiến chị trở nên thận trọng hơn khi mua sắm trực tuyến.
Câu chuyện của chị Phương cho thấy thực tế khi niềm tin bị xói mòn, tốc độ tăng trưởng của thương mại điện tử cũng khó có thể duy trì bền vững. Vì vậy, Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt quan trọng trong việc lập lại trật tự trên thị trường số.
Ông Trịnh Anh Tuấn, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (Bộ Công Thương) cho biết, các sàn thương mại điện tử hiện phải công khai quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại; đồng thời có quỹ tạm ứng để xử lý tranh chấp trước cho người tiêu dùng rồi mới truy thu lại từ bên vi phạm.
Đây là sự thay đổi quan trọng trong tư duy quản lý. Trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng không còn đặt hoàn toàn lên vai người mua mà được chia sẻ với chính nền tảng nơi giao dịch diễn ra. Điều đó cũng đồng nghĩa các sàn thương mại điện tử không thể tiếp tục đứng ngoài các vi phạm với lý do chỉ là đơn vị trung gian kết nối.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) nhấn mạnh rằng niềm tin là yếu tố quyết định sự phát triển của thương mại điện tử.
Cùng với việc Luật Thương mại điện tử có hiệu lực, Bộ Công Thương đang xây dựng hệ thống nghị định và thông tư hướng dẫn nhằm kết nối dữ liệu giữa địa phương, cơ quan thuế, hải quan, sàn thương mại điện tử và cơ sở dữ liệu thương mại điện tử quốc gia.
Việc hình thành hệ thống dữ liệu đồng bộ sẽ giúp truy vết người bán, định danh hoạt động livestream, kiểm soát tốt hơn hàng hóa lưu thông trên môi trường số và hạn chế hành vi gian lận; tạo thêm niềm tin cho người tiêu dùng khi tham gia giao dịch trực tuyến.
Bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý, Bộ Công Thương đang thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu thương mại điện tử quốc gia, tăng cường chia sẻ thông tin với cơ quan thuế, hải quan, quản lý thị trường và các nền tảng số; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát giao dịch, phát hiện dấu hiệu vi phạm và truy xuất nguồn gốc hàng hóa.
Đánh giá từ các chuyên gia, những nỗ lực hoàn thiện thể chế của Bộ Công Thương thời gian qua đã góp phần tạo nền tảng quan trọng để thương mại điện tử trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với chất lượng thị trường và mức độ tin cậy của người tiêu dùng.
Thực tế cho thấy, hàng giả, hàng nhái và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số không chỉ là vấn đề thực thi pháp luật. Đó còn là thách thức đối với uy tín doanh nghiệp, niềm tin thị trường và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong kỷ nguyên số.
Bởi vậy, làm sạch không gian mạng không thể chỉ là những chiến dịch cao điểm mang tính ngắn hạn mà là quá trình tái thiết lập trật tự thị trường số dựa trên sự kết hợp đồng bộ giữa pháp luật đủ mạnh, dữ liệu liên thông, công nghệ hiện đại, trách nhiệm của nền tảng, sự chủ động của doanh nghiệp và ý thức tiêu dùng văn minh của xã hội.
Hơn nữa, khi mọi chủ thể tham gia thị trường đều được định danh rõ ràng, mọi giao dịch đều có thể truy vết và mọi hành vi vi phạm đều phải trả giá tương xứng, thương mại điện tử Việt Nam mới có thể bước sang giai đoạn phát triển dựa trên chất lượng thay vì chỉ dựa vào tốc độ.
Vì thế, thành công của cuộc chiến chống hàng giả trên không gian mạng sẽ không được đo bằng số vụ xử lý hay số gian hàng bị khóa mà bằng mức độ tin cậy của người tiêu dùng, khả năng bảo vệ giá trị sáng tạo của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế số Việt Nam trong một thị trường ngày càng kết nối và cạnh tranh toàn cầu.











