Siết tuyển sinh theo tỷ lệ việc làm đúng ngành
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến về dự thảo quy định cấm tăng chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở đào tạo có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng ngành dưới 70%. Đây được xem là bước đi mạnh mẽ nhằm gắn chặt hoạt động tuyển sinh với hiệu quả đào tạo, lấy 'đầu ra' làm thước đo thay vì chỉ chú trọng 'đầu vào' như trước đây.

Sinh viên ĐH Bách Khoa (ĐH Quốc gia TPHCM) tìm hiểu sản phẩm ứng dụng công nghệ xanh và chuyển đổi số. Ảnh: HCMUT.
Tại dự thảo Thông tư về việc xác định số lượng tuyển sinh do Bộ GDĐT vừa công bố đầu tháng 2/2026 đã có những điều chỉnh so với quy định hiện hành. Cụ thể, ít nhất 70% sinh viên có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn trong vòng 12 tháng kể từ khi tốt nghiệp, các trường mới được tăng chỉ tiêu. Trước đó, Bộ chỉ yêu cầu tỷ lệ không thấp hơn 80%, không cần phù hợp ngành học.
Như vậy, điều kiện để được tăng chỉ tiêu tuyển sinh dự kiến được siết chặt hơn so với hiện hành. Điều này được nhiều chuyên gia đánh giá là hợp lý thay vì chỉ căn cứ vào số lượng giảng viên hay phòng học, chính sách mới đặt câu hỏi trực diện: sinh viên tốt nghiệp có thực sự được trang bị năng lực để làm việc trong lĩnh vực đã học hay không?
Lâu nay, các trường vẫn công bố số liệu này theo quy định của Bộ GDĐT song do phần lớn là tự thống kê, tỷ lệ này ở các trường đều ở mức cao, thường từ 85 - 100%. Vì vậy, nếu quy định mới được thông qua, khi chỉ tiêu tuyển sinh gắn với tỷ lệ việc làm đúng ngành, các trường buộc phải nhìn lại toàn bộ chuỗi đào tạo, từ xây dựng chương trình, phương pháp giảng dạy đến kết nối với doanh nghiệp. Điều này sẽ tạo ra áp lực cải tổ cần thiết đối với các cơ sở đào tạo, từ cập nhật chương trình đào tạo theo hướng thực tiễn hơn, tăng thời lượng thực hành, thực tập, đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp… Ngoài ra, chính sách này cũng góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo. Những ngành học “nóng” về tuyển sinh nhưng “lạnh” về việc làm sẽ phải cân nhắc lại quy mô, trong khi các ngành có nhu cầu xã hội cao nhưng ít được quan tâm có thể được đầu tư đúng mức hơn.
Theo hướng dẫn của Bộ GDĐT, trong đề án tuyển sinh, các trường ĐH phải công khai tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế, cách thức công bố số liệu giữa các trường còn rất khác nhau, chưa có mẫu thống nhất. Đáng chú ý, số lượng cựu sinh viên phản hồi khảo sát của mỗi ngành, mỗi trường chênh lệch lớn, khiến bức tranh về việc làm sau tốt nghiệp chưa phản ánh đầy đủ và chính xác, đặc biệt là mức độ phù hợp giữa công việc và chuyên ngành được đào tạo.
Đơn cử, Trường Đại học (ĐH) Kinh Tế (ĐH Quốc gia Hà Nội) công bố tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp năm 2024 có việc làm đạt 96,42%. Trong đó, 70,3% làm việc tại khu vực tư nhân, 1,9% tự tạo việc làm, nhưng chỉ 51% sinh viên được ghi nhận làm việc đúng với ngành đào tạo. Riêng ngành Kinh tế quốc tế – ngành có số lượng sinh viên tốt nghiệp đông nhất với 288 người – chỉ có 175 sinh viên tham gia khảo sát phản hồi, dù tỷ lệ có việc làm hoặc tiếp tục học tập được báo cáo lên tới 98,86%.
Trong khi đó, Trường Công nghiệp và thương mại Hà Nội công bố tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn đạt 85,1%. Trường ĐH Bách Khoa (ĐH Quốc gia TPHCM) lại ghi nhận tỷ lệ sinh viên tìm được việc làm trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp đạt 99,35%, với 31/35 ngành có 100% sinh viên có việc làm. Những con số ấn tượng này cho thấy nỗ lực của các cơ sở đào tạo, song đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về tính so sánh và độ đồng nhất của dữ liệu.
Thực tế, hiện nay mỗi trường đang áp dụng một phương pháp thống kê khác nhau. Có trường dựa trên khảo sát trực tuyến tự nguyện, có trường thu thập thông tin qua mạng lưới cựu sinh viên, mạng xã hội, thậm chí có nơi chỉ ước tính dựa trên số phản hồi nhỏ lẻ. Tỷ lệ mẫu khảo sát vì vậy rất khác nhau, có ngành chỉ vài chục phản hồi trong khi quy mô đào tạo lên tới hàng trăm hoặc hàng nghìn sinh viên, khiến số liệu công bố mang tính tham khảo nhiều hơn là phản ánh đúng thực trạng.
Bên cạnh đó, khái niệm “có việc làm” và “việc làm đúng ngành” cũng chưa được chuẩn hóa. Một số trường tính cả các công việc tạm thời, bán thời gian hoặc chỉ liên quan gián tiếp đến ngành học, trong khi những trường khác lại áp dụng tiêu chí chặt chẽ hơn. Sự thiếu thống nhất này khiến việc so sánh giữa các trường gần như không có giá trị và làm giảm độ tin cậy của dữ liệu khi được sử dụng làm căn cứ siết chỉ tiêu tuyển sinh.
Để quy định gắn chỉ tiêu tuyển sinh với tỷ lệ việc làm đúng ngành phát huy hiệu quả, Bộ GDĐT cần sớm ban hành khung hướng dẫn thống nhất về phương pháp thu thập, xử lý và công bố dữ liệu. Đồng thời, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về việc làm của sinh viên tốt nghiệp, có sự kết nối giữa nhà trường, cơ quan quản lý và thị trường lao động, được xem là giải pháp căn cơ, giúp tỷ lệ “việc làm đúng ngành” trở thành thước đo thực chất cho chất lượng đào tạo đại học.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/siet-tuyen-sinh-theo-ty-le-viec-lam-dung-nganh.html












