Số hoá di sản mở rộng khả năng lan tỏa giá trị văn hoá Việt Nam

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, trong đó chuyển đổi số được xem là một trong những động lực quan trọng để mở rộng không gian tiếp cận, sáng tạo và lan tỏa văn hóa.

Trong bối cảnh công nghệ đang làm thay đổi cách công chúng tiếp nhận, trải nghiệm và tương tác với di sản, số hóa không chỉ là việc lưu trữ các giá trị của quá khứ mà còn mở ra những phương thức mới để đưa di sản đến gần hơn với đời sống đương đại và bạn bè quốc tế. Từ yêu cầu đó, việc xây dựng các hệ sinh thái di sản số, bảo đảm quản trị dữ liệu văn hóa có trách nhiệm, đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng và các chủ thể sáng tạo trở thành những vấn đề cần được quan tâm.

Nhân dịp này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc trao đổi với ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam về những khuyến nghị nhằm phát huy hiệu quả các danh hiệu UNESCO, kết nối di sản với sáng tạo và phát triển bền vững, cũng như thúc đẩy số hóa để mở rộng khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam.

Thưa ông, UNESCO đánh giá như thế nào về vai trò của văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo trong việc thúc đẩy ngoại giao văn hóa, nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam?

Thưa ông, UNESCO đánh giá như thế nào về vai trò của văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo trong việc thúc đẩy ngoại giao văn hóa, nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế của Việt Nam?

Các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hình ảnh, giúp một quốc gia được thế giới nhìn nhận, thấu hiểu và ghi nhớ. Việt Nam có những nền tảng vững chắc để phát huy thế mạnh này, với 9 Di sản Thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh và 4 thành phố thuộc Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO.

Với lịch sử lâu dài được bồi đắp bởi giao lưu văn hóa, tinh thần kiên cường và sự chung sống hòa hợp, Việt Nam mang đến các hoạt động hợp tác và giao lưu quốc tế một câu chuyện được đặt trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn và sự tôn trọng đa dạng. Chiều sâu đó giúp văn hóa trở thành một ngôn ngữ chung trong các cơ chế hợp tác đa phương, góp phần xây dựng sự thấu hiểu lẫn nhau và thúc đẩy hợp tác lâu dài, vượt lên trên những khác biệt về chính trị hay kinh tế.

Văn hóa góp phần nâng cao mức độ hiện diện và uy tín của quốc gia. Vai trò ngày càng tăng của Việt Nam trong các cơ chế quản trị của UNESCO phản ánh sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam với tư cách là một đối tác mang tính xây dựng và đáng tin cậy. Không chỉ đảm nhận các vai trò trong bộ máy tổ chức, Việt Nam còn chủ động đóng góp các ý tưởng và sáng kiến như “Thập kỷ văn hóa vì phát triển bền vững”, đồng thời đăng cai và tổ chức nhiều hoạt động trao đổi quốc tế về phát triển văn hóa và sáng tạo, trong đó có các hoạt động trong khuôn khổ Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO. Những hoạt động này giúp Việt Nam không chỉ tham gia mà còn góp phần định hình các cuộc thảo luận toàn cầu về văn hóa và phát triển.

Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker đồng hành cùng các hoạt động phát huy giá trị di sản tại TP Hà Nội. Ảnh: IMEXCO

Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker đồng hành cùng các hoạt động phát huy giá trị di sản tại TP Hà Nội. Ảnh: IMEXCO

Văn hóa liên kết hợp tác quốc tế với phát triển lấy con người làm trung tâm thông qua các mô hình thực tiễn. Tại Việt Nam, di sản và sáng tạo ngày càng được kết nối với giáo dục, du lịch bền vững và sinh kế cộng đồng. Từ các di sản tích hợp bảo tồn với các cơ hội kinh tế địa phương, đến các thành phố sáng tạo huy động giới trẻ, nghệ nhân và các doanh nhân văn hóa, những mô hình này chứng minh cách thức hợp tác văn hóa chuyển hóa thành lợi ích kinh tế và xã hội hữu hình.

Cuối cùng, văn hóa nuôi dưỡng sự sáng tạo. Thông qua đầu tư cho các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, các không gian sáng tạo và những sáng kiến do người trẻ dẫn dắt, Việt Nam đang đầu tư cho thế hệ trẻ và tương lai. Sự sáng tạo giúp văn hóa luôn vận động, phù hợp với đời sống đương đại và cởi mở, qua đó giúp Việt Nam kết nối với thế giới không chỉ bằng những giá trị của quá khứ mà còn thông qua các ý tưởng, thiết kế và hình thức biểu đạt nghệ thuật đương đại.

Thưa ông, theo khuyến nghị của UNESCO, Việt Nam và các địa phương cần làm gì sau khi một di sản, hoặc thực hành văn hóa được UNESCO ghi danh, công nhận để phát huy hiệu quả nhất giá trị của danh hiệu? Làm thế nào để các danh hiệu UNESCO trở thành động lực cho phát triển bền vững, ngoại giao văn hóa, quảng bá hình ảnh quốc gia và sinh kế cộng đồng, thay vì chủ yếu dừng lại ở ý nghĩa công nhận, thưa ông?

UNESCO luôn nhấn mạnh rằng, sự ghi danh hay công nhận không phải là đích đến. Điều quan trọng là các danh hiệu đó được phát huy như thế nào để tạo ra giá trị lâu dài cho con người và cộng đồng, đồng thời đưa văn hóa và di sản trở thành trọng tâm của các chiến lược phát triển bao trùm, có khả năng thích ứng và lấy con người làm trung tâm. Tôi xin đề xuất năm ưu tiên.

Thứ nhất, bảo vệ di sản cần tiếp tục là điểm khởi đầu. Đối với các Di sản Thế giới, UNESCO đặc biệt coi trọng các điều kiện về tính xác thực và tính toàn vẹn, bởi đây là những yếu tố cốt lõi tạo nên Giá trị Nổi bật Toàn cầu của mỗi di sản. Theo tinh thần của Tuyên bố Naples, bảo tồn và phát triển cần song hành, thay vì bị xem là những mục tiêu đối lập. Đây là lúc những công cụ như Đánh giá tác động đối với di sản và đánh giá sức chứa có thể hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định sớm và có trách nhiệm, bảo đảm các cơ hội phát triển kinh tế được cân bằng với yêu cầu bảo vệ lâu dài các giá trị của di sản.

Thứ hai, cộng đồng cần được xem là đối tác trong hành trình gìn giữ và phát huy di sản. Những người dân sinh sống trong và xung quanh các khu vực di sản thường là chủ thể nắm giữ tri thức, kỹ năng và các thực hành tạo nên ý nghĩa của những không gian này. Họ cần được tham gia vào quá trình ra quyết định và được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch.

Thứ ba, Việt Nam cần kết nối di sản với một hệ sinh thái sáng tạo rộng lớn hơn. Các làng nghề, di tích lịch sử, bảo tàng, không gian công cộng và nghệ thuật biểu diễn có thể trở thành nguồn cảm hứng cho thiết kế mới, giáo dục, các sản phẩm văn hóa và dịch vụ sáng tạo. Quá trình này cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng ý nghĩa và giá trị văn hóa, có sự tham gia của các chủ thể thực hành và trao quyền cho người trẻ. Theo đó, di sản không chỉ nên được nhìn nhận là những gì cần bảo tồn, mà còn là nguồn lực cho đổi mới, sáng tạo và tăng trưởng bao trùm.

Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace cùng các vị khách quốc tế tìm hiểu không gian nghệ thuật sáng tạo của các tác giả trẻ Việt Nam. Ảnh: Photo Hanoi biennale

Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace cùng các vị khách quốc tế tìm hiểu không gian nghệ thuật sáng tạo của các tác giả trẻ Việt Nam. Ảnh: Photo Hanoi biennale

Việt Nam cũng cần tiếp tục đầu tư cho các nhà sáng tạo trẻ và triển khai giáo dục di sản một cách toàn diện. Thông qua đào tạo, phát triển không gian sáng tạo, hoạt động cố vấn và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, người trẻ có thể giúp di sản Việt Nam đến gần hơn với đông đảo công chúng, trong khi vẫn giữ được cội rễ và bản sắc vốn có. Sự tham gia của thanh niên đặc biệt quan trọng để bảo đảm di sản tiếp tục là một nguồn lực sống, đóng góp cho cả sự tiếp nối văn hóa và phát triển bền vững.

Cuối cùng, cần tăng cường quan hệ đối tác giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân, để các ý tưởng sáng tạo có thể được nhân rộng và duy trì bền vững, vượt ra ngoài khuôn khổ của các sự kiện đơn lẻ, đồng thời bảo đảm cộng đồng vẫn giữ vai trò trung tâm. Cách tiếp cận hợp tác này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Naples, trong đó kêu gọi tăng cường hợp tác giữa chính phủ, cộng đồng, các thiết chế văn hóa và khu vực tư nhân nhằm phát huy tối đa đóng góp của di sản đối với phát triển bền vững.

UNESCO sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trên hành trình này thông qua hợp tác kỹ thuật, đối thoại chính sách, nâng cao năng lực, các tiêu chuẩn quốc tế và những mạng lưới toàn cầu.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, UNESCO có những khuyến nghị gì đối với Việt Nam trong việc thúc đẩy số hóa di sản, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận, sự tương tác và quảng bá các giá trị di sản tới công chúng trong nước và quốc tế, thưa ông?

UNESCO cho rằng, các quốc gia cần tiếp cận chuyển đổi số như một quá trình toàn diện, trong đó công nghệ, văn hóa và quyền của cộng đồng được xem xét một cách cân bằng và tích hợp.

Thứ nhất, cần đầu tư phát triển các cơ sở dữ liệu di sản số tích hợp và có khả năng tương tác, dựa trên các tiêu chuẩn chung. Các cơ sở dữ liệu này không chỉ đóng vai trò là kho lưu trữ thông tin mà còn là nền tảng hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục, quản lý di sản và phổ biến tri thức văn hóa. Việc đảm bảo tính chính xác, tính xác thực và sự bền vững lâu dài của dữ liệu là yếu tố then chốt, đồng thời cần tránh tình trạng manh mún và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương.

Bên cạnh việc số hóa các thực hành di sản văn hóa phi vật thể, UNESCO nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tư liệu hóa kỹ thuật số các không gian văn hóa và nghi lễ, di sản kiến​​trúc, cảnh quan văn hóa cùng các yếu tố liên quan như hiện vật, không gian âm thanh, hình ảnh, nghi thức và bối cảnh trình diễn. Cách tiếp cận toàn diện này giúp nắm bắt trọn vẹn hệ sinh thái văn hóa, ngăn chặn việc tách rời các thực hành văn hóa khỏi bối cảnh và ý nghĩa nguyên bản, đồng thời cho phép thể hiện, nghiên cứu và ứng dụng giáo dục trong môi trường số một cách ý nghĩa, xác thực và phù hợp với bối cảnh thực tế.

Ông Jonathan Wallace Baker trải nghiệm các hoạt động tại Liên hoan nghệ thuật Photo Hanoi biennale. Ảnh: Photo Hanoi biennale

Ông Jonathan Wallace Baker trải nghiệm các hoạt động tại Liên hoan nghệ thuật Photo Hanoi biennale. Ảnh: Photo Hanoi biennale

Thứ hai, việc bảo vệ dữ liệu văn hóa cần được coi là ưu tiên hàng đầu trong quá trình chuyển đổi số. Không phải mọi dữ liệu liên quan đến di sản đều có thể hoặc nên được tiếp cận, chia sẻ hay tái sử dụng theo cùng một cách thức. Nhiều thực hành tôn giáo, hệ thống tín ngưỡng và các hình thức tri thức truyền thống đòi hỏi phải có biện pháp bảo vệ thích hợp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của cộng đồng liên quan, tôn trọng các giá trị văn hóa và các nguyên tắc đạo đức, cũng như ngăn chặn tình trạng xuyên tạc, thương mại hóa không phù hợp hoặc làm sai lệch ý nghĩa nguyên bản.

UNESCO đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác quản trị dữ liệu có trách nhiệm và tuân thủ đạo đức, đảm bảo cộng đồng được tham gia tích cực vào các quyết định liên quan đến việc tư liệu hóa, lưu trữ, quản lý và sử dụng dữ liệu văn hóa.

Thứ ba, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi mọi người đều có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ những thành quả của quá trình này. Điều đó đòi hỏi các chính sách thúc đẩy khả năng tiếp cận công bằng đối với các nguồn tài nguyên văn hóa số, đặc biệt đối với thanh niên, phụ nữ, người khuyết tật, cộng đồng dân tộc thiểu số, cộng đồng địa phương và các nhóm khác đang ở trong những hoàn cảnh dễ bị tổn thương.

Cuối cùng, chúng tôi muốn nhấn mạnh, chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản không chỉ đơn thuần là vấn đề công nghệ, mà còn là câu chuyện về năng lực con người, quản trị và hợp tác liên ngành. Đầu tư cho phát triển kỹ năng và thúc đẩy sự hợp tác giữa các thiết chế văn hóa, chuyên gia di sản, cộng đồng, các nhà nghiên cứu và các chủ thể trong lĩnh vực công nghệ sẽ đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các hệ sinh thái di sản số bền vững, an toàn và bao trùm.

UNESCO mong muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam nhằm bảo đảm chuyển đổi số không chỉ góp phần bảo vệ di sản văn hóa mà còn đóng góp vào việc xây dựng những xã hội dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững cho tương lai.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Phượng (thực hiện)/ Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/van-hoa/so-hoa-di-san-mo-rong-kha-nang-lan-toa-gia-tri-van-hoa-viet-nam-20260826103531596.htm