Sở hữu trí tuệ - yếu tố quan trọng để tự chủ chiến lược và cạnh tranh quốc tế

Sở hữu trí tuệ được đặt vào vị trí mới trong chiến lược phát triển, không chỉ là công cụ bảo hộ thành quả sáng tạo mà còn là nguồn lực quốc gia, gắn với tự chủ công nghệ, năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong thương mại quốc tế.

Chính phủ đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn: baochinhphu.vn.

Chính phủ đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn: baochinhphu.vn.

Từ bảo hộ quyền đến kiến tạo nguồn lực phát triển

Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới xác định công tác sở hữu trí tuệ là vấn đề rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, là yếu tố cốt lõi để tự chủ chiến lược và cạnh tranh thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Định hướng này được Chính phủ cụ thể hóa tại Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận 51.

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận đối với sở hữu trí tuệ được mở rộng rõ rệt. Kết luận 51 yêu cầu quán triệt quan điểm quyền sở hữu trí tuệ là nguồn lực quan trọng của quốc gia; việc tạo lập, khai thác và bảo vệ quyền phải gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng bền vững và bảo vệ tương lai phát triển của đất nước. Đồng thời, tư duy quản lý phải chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ.

Theo định hướng của Bộ Chính trị, sở hữu trí tuệ phải trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các ngành công nghiệp chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao. Sở hữu trí tuệ vì vậy được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với năng lực phát triển của nền kinh tế.

Kết luận 51 đồng thời nhấn mạnh phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu thị trường. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế định giá và đẩy mạnh khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị trong huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp.

Kế hoạch hành động của Chính phủ cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ như xây dựng chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ; rà soát cơ chế định giá; thúc đẩy thương mại hóa; hỗ trợ doanh nghiệp xác lập, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu công nghệ…

Điều này cho thấy, khi sở hữu trí tuệ được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, trọng tâm chính sách cũng cần dịch chuyển từ việc chủ yếu xác lập và bảo vệ quyền sang làm sao để những quyền đó thực sự tạo ra giá trị kinh tế. Kế hoạch của Chính phủ vì vậy đặt yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ; đồng thời thúc đẩy hình thành thị trường khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh khai thác, thương mại hóa và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.

Tự chủ công nghệ gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia

Một lớp chính sách quan trọng khác là gắn sở hữu trí tuệ với yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh. Kết luận 51 yêu cầu đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có chọn lọc, đồng thời bảo đảm nguồn lực thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Theo đó, Nghị quyết 282 của Chính phủ đặt ra các nhiệm vụ kiểm soát, phòng ngừa và ngăn chặn việc chuyển giao công nghệ trái phép ra nước ngoài; tăng cường kiểm soát rủi ro trong sở hữu trí tuệ; cảnh báo và kịp thời phát hiện các đối tượng có dấu hiệu gian lận về sở hữu trí tuệ xuyên biên giới. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu xây dựng đề án hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Mối liên hệ giữa sở hữu trí tuệ với tự chủ chiến lược theo đó trở nên rõ hơn. Tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, mà đòi hỏi nền kinh tế có khả năng tạo ra, nắm giữ, khai thác và bảo vệ những tài sản trí tuệ có giá trị, đồng thời tham gia thị trường quốc tế mà vẫn bảo vệ được các lợi ích cốt lõi. Bảo hộ quyền, thương mại hóa tài sản trí tuệ và kiểm soát chuyển giao công nghệ vì vậy cần được đặt trong cùng một tổng thể chính sách.

Thách thức mới còn đến từ môi trường số. Kết luận 51 yêu cầu hệ thống pháp luật thích ứng với các mô hình kinh tế mới và xử lý những vấn đề phát sinh từ AI, dữ liệu lớn, tài sản số, công nghệ sinh học, bán dẫn, nền tảng số và không gian mạng. Nghị quyết 282 đặt nhiệm vụ ứng dụng công nghệ để giám sát, tự động phát hiện, cảnh báo sớm hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số và nghiên cứu cơ chế tài phán chuyên sâu nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ.

Điểm xuyên suốt của định hướng mới là đưa sở hữu trí tuệ ra khỏi phạm vi một công cụ pháp lý thuần túy để trở thành một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ, việc tạo lập, thương mại hóa và bảo vệ tài sản trí tuệ sẽ tác động trực tiếp đến năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và vị thế của nền kinh tế trong thương mại quốc tế.

Hướng tới vay vốn dựa trên quyền sở hữu trí tuệ

Tại Nghị quyết 282, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng nghiên cứu, triển khai các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân vay vốn dựa trên quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật.

Định hướng này được đặt trong tổng thể các giải pháp nhằm khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản có giá trị. Theo đó, Chính phủ yêu cầu rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm đối với quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo thuận lợi cho việc huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp trên cơ sở được bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ.

LĐ

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/so-huu-tri-tue-yeu-to-quan-trong-de-tu-chu-chien-luoc-va-canh-tranh-quoc-te-188145.html