Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa: Đổi mới tư duy, nâng tầm thương hiệu nông sản

Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đang đẩy mạnh tham mưu, tổ chức lại sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu nông sản, góp phần gia tăng giá trị, mở rộng thị trường và nâng cao thu nhập cho người dân.

Tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản

Yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc đang thúc đẩy nông nghiệp Thanh Hóa thay đổi phương thức sản xuất. Thay vì chú trọng sản lượng, địa phương tập trung xây dựng vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp để nâng giá trị nông sản.

Theo định hướng này, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã tham mưu cho tỉnh phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, khuyến khích tích tụ đất đai, ứng dụng khoa học công nghệ và mở rộng các mô hình nông nghiệp xanh, hữu cơ. Việc tổ chức sản xuất từng bước gắn với nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm.

Giá trị sản xuất trồng trọt bình quân năm 2026 ước đạt 127-130 triệu đồng/ha, tăng hơn 36 triệu đồng/ha so với năm 2020. Tại xã Yên Trường, mô hình "Cánh đồng Công nghệ số" được triển khai trên diện tích 15ha, kết hợp cơ giới hóa, máy cấy, thiết bị bay không người lái và nền tảng số trong quản lý đồng ruộng.

Ở xã Hoa Lộc, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Phú Lộc tổ chức sản xuất trên hơn 400ha, trong đó có khoảng 200ha rau màu và cây hàng hóa. Hợp tác xã liên kết với 5 doanh nghiệp, cung ứng hơn 5.000 tấn nông sản an toàn mỗi năm.

Các mô hình cho thấy hiệu quả của việc kết hợp công nghệ với tổ chức sản xuất theo vùng và liên kết tiêu thụ. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô, những khó khăn về tích tụ đất đai, vốn đầu tư, năng lực quản trị hợp tác xã và tính bền vững của các hợp đồng liên kết vẫn cần tiếp tục được tháo gỡ.

 Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Tô Anh Dũng cùng lãnh đạo tỉnh tham quan gian hàng, nghe TS. Đỗ Minh Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển VinaGreen, giới thiệu sản phẩm. Ảnh: Đơn vị cung cấp.

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Tô Anh Dũng cùng lãnh đạo tỉnh tham quan gian hàng, nghe TS. Đỗ Minh Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển VinaGreen, giới thiệu sản phẩm. Ảnh: Đơn vị cung cấp.

Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Đỗ Minh Thủy, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển VinaGreen, đơn vị xuất khẩu gạo chất lượng cao sang thị trường châu Âu, cho rằng việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định có ý nghĩa quyết định đối với khả năng nâng giá trị nông sản.

Theo ông Thủy, cần hình thành những cánh đồng sản xuất cùng một giống, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật và kiểm soát chất lượng. Doanh nghiệp phải tham gia từ khâu lựa chọn vùng trồng, tổ chức sản xuất, bao tiêu đến chế biến và phát triển thị trường.

Sự liên kết này giúp các bên chủ động hơn về sản lượng, chất lượng và đầu ra, đồng thời hạn chế tình trạng sản xuất không đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Cùng với việc tổ chức lại sản xuất, ngành nông nghiệp Thanh Hóa chú trọng quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Quá trình cấp, quản lý mã số gắn với xác định diện tích, chủ thể sản xuất, ghi chép nhật ký canh tác, kiểm soát vật tư đầu vào và bảo đảm an toàn thực phẩm.

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc được định hướng số hóa, gắn mã QR với sản phẩm, lô hàng và từng bước kết nối thông tin từ vùng trồng đến cơ sở đóng gói. Đây là cơ sở để minh bạch nguồn gốc, kiểm chứng thông tin và đáp ứng yêu cầu của các kênh phân phối.

Sở cũng phối hợp rà soát những sản phẩm có lợi thế để hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý; đồng thời tăng cường quản lý tem nhãn và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Ở lĩnh vực sản xuất xanh, diện tích lúa giảm phát thải của tỉnh năm 2026 đạt 21.986ha. Theo số liệu được cung cấp, năng suất tăng khoảng 8-10%, chi phí đầu vào giảm 30-40% và lượng phát thải giảm khoảng 4,5-5 tấn CO₂ tương đương/ha.

Những kết quả này cho thấy việc thay đổi phương thức canh tác có thể mang lại lợi ích đồng thời về năng suất, chi phí sản xuất và môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích đất nông nghiệp.

Xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường cho nông sản

Tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng là điều kiện cần, nhưng để nâng giá trị nông sản, khâu xây dựng thương hiệu và tiêu thụ giữ vai trò quan trọng. Đây vẫn là thách thức đối với nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất khi nguồn lực dành cho quản trị, bao bì, tiếp thị và phát triển hệ thống phân phối còn hạn chế.

Thanh Hóa hiện có 699 sản phẩm được công nhận OCOP, gồm 2 sản phẩm 5 sao, 63 sản phẩm 4 sao và 634 sản phẩm 3 sao. Tuy nhiên, chứng nhận OCOP chưa đồng nghĩa với khả năng tiêu thụ ổn định. Để tham gia các kênh phân phối hiện đại, sản phẩm phải duy trì chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, có bao bì, nhãn mác phù hợp và đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ.

Vì vậy, bên cạnh phát triển sản phẩm mới, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa tập trung hỗ trợ các chủ thể hoàn thiện quy trình sản xuất, nâng năng lực quản trị, xây dựng nhãn hiệu, cải tiến bao bì và ứng dụng truy xuất nguồn gốc. Trọng tâm là nâng chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm thay vì chỉ gia tăng số lượng được công nhận.

Chuyển đổi số cũng được đẩy mạnh trong hoạt động quảng bá và kết nối tiêu thụ. Hơn 400 sản phẩm OCOP còn hiệu lực đã được tích hợp dữ liệu trên ứng dụng Công dân Thanh Hóa, phục vụ việc xây dựng bản đồ số OCOP và cung cấp thông tin đến người tiêu dùng.

Hoạt động giới thiệu sản phẩm được triển khai qua báo chí, video, website, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử và các điểm trưng bày. Năm 2026, ngành lựa chọn 51 sản phẩm OCOP tiêu biểu để xây dựng 9 video quảng bá trên hệ thống màn hình điện tử và bảng quảng cáo tại nhiều địa phương.

Theo kết quả khảo sát do đơn vị thực hiện, các chủ thể có sản phẩm tham gia quảng bá đều ghi nhận doanh thu tăng so với trước. Gian hàng OCOP tại Cảng hàng không Thọ Xuân cũng đã đi vào hoạt động, tạo thêm điểm giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm đặc trưng của tỉnh.

Song song với quảng bá, ngành nông nghiệp hỗ trợ kết nối sản phẩm với hệ thống siêu thị, cửa hàng nông sản an toàn, điểm giới thiệu OCOP và các nền tảng thương mại điện tử. Các hội nghị kết nối cung cầu, hội chợ và phiên chợ tiếp tục được tổ chức nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã tiếp cận đối tác phân phối.

Năm 2025, ngành phối hợp tổ chức 4 phiên chợ với khoảng 200 lượt doanh nghiệp tham gia. Năm 2026, hoạt động này tiếp tục được triển khai với 4 phiên chợ, thu hút khoảng 220 doanh nghiệp. Theo kế hoạch, hội nghị kết nối cung cầu nông sản, thực phẩm an toàn năm 2026 dự kiến có 300 gian hàng, với sự tham gia của hơn 220 doanh nghiệp và địa phương, giới thiệu hàng nghìn sản phẩm.

Không dừng lại ở thị trường nội địa, Thanh Hóa đang có khoảng 36 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu nông sản, thực phẩm. Giá trị xuất khẩu nhóm hàng này năm 2026 ước đạt 430 triệu USD, trong đó nông sản khoảng 90 triệu USD, thịt và sản phẩm từ thịt 7,4 triệu USD, thủy sản 104,8 triệu USD và lâm sản 227,8 triệu USD.

Thị trường xuất khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và duy trì năng lực cung ứng. Điều này càng làm rõ vai trò của vùng nguyên liệu ổn định, liên kết sản xuất và đầu tư chế biến trong chiến lược phát triển nông sản của địa phương.

 Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa Lê Văn Tiến tham gia tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư nông nghiệp. Ảnh: Đơn vị cung cấp.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa Lê Văn Tiến tham gia tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tiến độ các dự án đầu tư nông nghiệp. Ảnh: Đơn vị cung cấp.

Thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa tiếp tục tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển sản xuất hàng hóa; thúc đẩy tích tụ đất đai, mở rộng vùng nguyên liệu và tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp chế biến, phân phối.

Các nhiệm vụ về ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, bảo hộ nhãn hiệu và xúc tiến thương mại sẽ được triển khai song song với kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm.

Về lâu dài, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản không thể chỉ dựa vào chứng nhận, bao bì hay hoạt động quảng bá. Yếu tố quyết định vẫn là chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch và khả năng thực hiện cam kết với đối tác, người tiêu dùng. Khi sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường và các chủ thể duy trì được mối liên kết, nông sản Thanh Hóa sẽ có điều kiện nâng giá trị, mở rộng đầu ra và cải thiện thu nhập cho người sản xuất.

Hoài Anh

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/so-nong-nghiep-va-moi-truong-thanh-hoa-doi-moi-tu-duy-nang-tam-thuong-hieu-nong-san.html