Sông Đà - ký ức của những dòng điện và khát vọng hôm nay

Đứng trên tượng đài Bác Hồ nhìn xuống dòng Đà giang xanh biếc, những cánh cửa xả lũ khổng lồ của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình vẫn ngày đêm miệt mài chuyển sức nước thành dòng điện thắp sáng mọi miền đất nước. Mặt hồ mênh mang phẳng lặng như chưa từng có những ngày dòng sông dữ dội, chưa từng có những tháng năm hàng vạn con người đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương để làm nên kỳ tích của thế kỷ.

Thủy điện Hòa Bình hôm nay.

Thủy điện Hòa Bình hôm nay.

Sông Đà là dòng sông duy nhất của đất Việt mang trong mình một hướng đi khác biệt, như chính số phận và lịch sử của nó. “Chúng thủy giai đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu”. Từ ngàn đời, con sông này nổi tiếng với những ghềnh đá hiểm trở và những trận lũ hung hãn đổ xuống đồng bằng Bắc Bộ. Gần một thế kỷ trước, những nhà địa chất người Pháp từng cho rằng đây là dòng sông “bất trị”. Nhưng những người Việt Nam đã không nghĩ như vậy.

Năm 1960, trong chuyến đi trên sông Đà, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Phải biến thủy tặc thành thủy lợi. Mục đích cuối cùng phải chinh phục dòng sông có lợi ích lâu dài cho toàn dân”. Mong muốn ấy đã trở thành khát vọng của nhiều thế hệ cán bộ, kỹ sư, công nhân trên công trường sông Đà..

Ông Hoàng Văn Bình, nay đã ngoài 70 tuổi, sống trong khu chuyên gia Liên Xô cũ ở phường Hòa Bình vẫn không quên được những năm tháng tuổi trẻ trên đại công trường sông Đà. Ngày 6/11/1979, công trình Thủy điện Hòa Bình chính thức khởi công. Hàng vạn thanh niên khắp miền Bắc lên đường đến công trường thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Hơn 500 kỹ sư trẻ vừa tốt nghiệp được điều động; hơn 800 chuyên gia, công nhân lành nghề Liên Xô sang Việt Nam, cùng kề vai sát cánh với cán bộ, kỹ sư và công nhân Việt Nam.

Ngày ba ca, đêm bốn kíp. Núi rừng Hòa Bình khi ấy như một đại công trường không ngủ. Những đường hầm xuyên núi sâu hàng trăm mét được đào ngày đêm. Hàng triệu mét khối đất đá được vận chuyển để chuẩn bị cho cuộc ngăn sông lịch sử. Trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, những người thợ vẫn bám công trường với quyết tâm đưa dòng điện về cho Tổ quốc.

“Khó khăn lắm, nhưng ai cũng nghĩ phải làm cho xong để đất nước có điện, người dân bớt khổ”, ông Bình nhớ lại.

Để làm nên công trình vĩ đại này, nhiều người đã mãi mãi nằm lại với sông Đà. Có 168 cán bộ, công nhân và chuyên gia Liên Xô hy sinh trong quá trình xây dựng nhà máy. Sự hy sinh của họ đã trở thành biểu tượng đẹp của tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, nay là Việt Nam - Liên bang Nga.

Ngày 20/12/1994, sau 15 năm xây dựng, công trình Thủy điện Hòa Bình với 8 tổ máy, công suất 1.920 MW chính thức khánh thành - kỳ tích lớn nhất Đông Nam Á thời điểm ấy đã hoàn thành. Một dòng sông từng được coi là hung dữ đã trở thành nguồn “vàng trắng” vô tận, góp phần thắp sáng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Từ đó đến nay, những tổ máy vẫn bền bỉ quay, phát đi hàng trăm tỷ kWh điện. Không chỉ phát điện, hồ Hòa Bình còn đảm nhiệm sứ mệnh điều tiết lũ, chống hạn, bảo đảm giao thông đường thủy và góp phần bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ.

Khát vọng chinh phục sông Đà chưa dừng lại. Cuối năm 2025, dự án Thủy điện Hòa Bình mở rộng hoàn thành, nâng tổng số tổ máy lên 10 tổ, công suất đạt 2.400 MW, ngang bằng Thủy điện Sơn La, đưa Hòa Bình tiếp tục giữ vị trí một trong những trung tâm năng lượng lớn nhất khu vực.

Nhìn từ xa, công trình mở rộng sừng sững bên cạnh nhà máy hiện hữu như một biểu tượng tiếp nối của ý chí Việt Nam trong hành trình chuyển đổi năng lượng xanh và phát triển bền vững. Thủy điện Hòa Bình hôm nay không chỉ là công trình kinh tế, mà còn là điểm đến của hàng triệu du khách, là niềm tự hào của những người từng sống và làm việc bên dòng Đà giang.

Các bản làng ven hồ Hòa Bình được quan tâm đầu tư, đời sống người dân không ngừng được nâng lên.

Các bản làng ven hồ Hòa Bình được quan tâm đầu tư, đời sống người dân không ngừng được nâng lên.

Nhưng phía sau những dòng điện sáng là những cuộc chuyển dân quy mô lớn khi lòng hồ hình thành. Hàng vạn người dân phải rời quê cũ, lên những vùng đất mới dựng nhà, lập bản. Những năm đầu tái định cư, cuộc sống vô cùng khó khăn do thiếu đất sản xuất, giao thông cách trở và điều kiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn.

Suốt nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đồng bào vùng hồ. Hàng loạt chương trình hỗ trợ sinh kế, đầu tư hạ tầng được triển khai. Đường giao thông, điện lưới, trường học, trạm y tế từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện để người dân ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế.

Ngày nay, vùng hồ Hòa Bình đang khoác lên mình diện mạo mới. Trên mặt hồ rộng lớn, những lồng cá nối nhau trải dài. Cá sông Đà đã trở thành thương hiệu nổi tiếng, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân. Các mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng hàng hóa ngày càng phát triển.

Không chỉ có thủy sản, du lịch vùng hồ cũng đang trở thành ngành kinh tế nhiều triển vọng. Những bản làng ven hồ như Bản Ngòi (xã Suối Hoa), Đá Bia (xã Tiền Phong) với những nếp nhà sàn truyền thống, cảnh quan thơ mộng và bản sắc văn hóa đặc trưng đang thu hút ngày càng nhiều du khách. Khu du lịch hồ Hòa Bình đã thu hút hàng chục dự án đầu tư, hình thành hệ thống resort, homestay, khách sạn và các tour du lịch đặc sắc.

Những chuyến tàu chở khách lướt nhẹ trên mặt nước xanh biếc đưa du khách khám phá vẻ đẹp của hồ Hòa Bình, nơi thiên nhiên và văn hóa các dân tộc hòa quyện tạo nên sức hấp dẫn riêng. Cùng với các dự án giao thông trọng điểm đang được triển khai, vùng hồ được kỳ vọng trở thành điểm đến quan trọng của khu du lịch quốc gia trọng điểm của vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Chiều xuống, mặt hồ lặng như tấm gương khổng lồ phản chiếu sắc trời Tây Bắc. Dòng sông Đà năm nào từng cuộn xoáy, gầm réo qua những ghềnh thác giờ chảy êm đềm dưới chân công trình thế kỷ. Có nhiều cách để cảm nhận sông Đà. Nguyễn Tuân từng nhìn thấy vẻ đẹp kỳ vĩ của dòng sông để viết nên những trang tùy bút đặc sắc. Những người thợ năm xưa lại nhớ về tiếng máy khoan, tiếng còi ca kíp và những ngày chạy đua với dòng nước.

Còn hôm nay, ngồi bên bờ hồ ngắm mặt nước lững lờ trong nắng, người ta cảm nhận rõ hơn sự kỳ diệu mà con người đã tạo nên từ thiên nhiên. Từ những ghềnh thác dữ dội, từ những mất mát và hy sinh, một bản hùng ca đã được viết nên. Đó là bản hùng ca của ý chí Việt Nam, của những con người đã biến “thủy tặc” thành “thủy lợi”. Và từ những dòng điện không ngừng tỏa sáng ấy, những khát vọng mới đang tiếp tục được thắp lên trên vùng hồ sông Đà hôm nay - nơi ký ức của một công trình thế kỷ vẫn hòa nhịp cùng sức sống của hiện tại và niềm tin vào tương lai.

Hương Lan

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/song-da-ky-uc-cua-nhung-dong-dien-va-khat-vong-hom-nay-255911.htm