Sự phát triển của Việt Nam năm 2025 qua góc nhìn chuyên gia Nga
Trên cơ sở những theo dõi và nghiên cứu dài hạn về Việt Nam, GS.TSKH ngành kinh tế V. Mazyrin cho rằng, năm 2025 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình cải cách và phát triển của Việt Nam, khi nền kinh tế tiếp tục đạt được những kết quả nổi bật trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.

GS.TSKH Vladimir Mazyrin
Nhân dịp năm mới 2026, GS. TSKH V. Mazyrin đã dành cho phóng viên Báo Điện tử Chính phủ một cuộc trao đổi nhằm cùng nhìn lại những chuyển biến nổi bật của kinh tế Việt Nam trong năm 2025, đánh giá các động lực tăng trưởng chủ yếu, triển vọng thời gian tới, cũng như ý nghĩa rộng hơn của con đường phát triển mà Việt Nam đang theo đuổi trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động.
Ông Mazyrin hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, Viện Trung Quốc và châu Á đương đại (ICCA), Viện Hàn lâm Khoa học Nga, đồng thời là Giáo sư Viện Nghiên cứu châu Á và châu Phi, Đại học Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov. Ngoài ra, ông còn là Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam của Nga từ năm 2018 và Chủ tịch Hội đồng Luận án Kinh tế của ICCA từ năm 2023.
Những chuyển biến mang tính hệ thống của nền kinh tế Việt Nam
Theo ông Mazyrin, trong dòng chảy của tiến trình "Đổi mới" do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, năm 2025 đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình chuyển đổi mang tính hệ thống của nền kinh tế, các thể chế chính trị và lĩnh vực xã hội. Theo sáng kiến của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm, nhiều biện pháp quan trọng đã được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính và cơ chế quản trị nhà nước ở cả cấp vĩ mô và địa phương.
Ông Mazyrin cho rằng, tiếp nối logic của chính sách tự do hóa, Việt Nam xác định rõ định hướng đưa khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng. Đây có thể coi là một trong những ví dụ tiêu biểu nhất về cải cách thành công và mang tính quyết liệt tại các quốc gia đang phát triển.
Ông Mazyrin dẫn chứng những kết quả đạt được thể hiện rõ qua việc thu nhập bình quân đầu người tăng lên khoảng 5.000 USD, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, đồng thời quy mô GDP danh nghĩa đạt khoảng 510 tỷ USD. Đáng chú ý, sự thăng hạng của Việt Nam trên các bảng xếp hạng kinh tế quốc tế, vươn lên nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới, diễn ra nhanh hơn nhiều so với dự báo, qua đó góp phần gia tăng vị thế và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Theo ông Mazyrin, những thành tựu kinh tế này càng trở nên nổi bật trong bối cảnh nhiều nền kinh tế phát triển ở phương Tây rơi vào suy thoái sâu, còn kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với bất ổn. Động lực quan trọng của tăng trưởng là sự mở rộng mạnh mẽ của ngoại thương và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt khoảng 900 tỷ USD, trong khi vốn FDI thu hút trong năm lên tới gần 40 tỷ USD. Cùng với đó là những tín hiệu tích cực như tỉ lệ nghèo đói và thất nghiệp giảm xuống mức thấp kỷ lục, lạm phát được kiểm soát ổn định, tỷ giá và nợ nước ngoài duy trì trong giới hạn an toàn.
Nhìn tổng thể, nền kinh tế Việt Nam ngày càng thể hiện rõ hơn các đặc trưng của một nền kinh tế thị trường trưởng thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN nhận định.
Năm 2026: Tăng trưởng của Việt Nam vẫn thuộc nhóm cao nhất ASEAN
Nhận định cho năm tới, GS.TSKH Mazyrin cho rằng, triển vọng và dự báo kinh tế của Việt Nam trong năm 2026 tiếp tục được đánh giá tích cực. Dù việc đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026 rất khó khăn, nhưng mức tăng trưởng dự kiến vẫn thuộc nhóm cao nhất trong ASEAN, vượt Trung Quốc và tương đương với Ấn Độ.
Việc Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do, cũng như các cơ chế hợp tác liên quan đến BRICS, được kỳ vọng sẽ góp phần củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững và tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế.
Ông Mazyrin cũng cho rằng, trong trường hợp Việt Nam có thể hạn chế được những tác động bất lợi từ sức ép thuế quan của Hoa Kỳ đối với hoạt động thương mại đối ngoại, đà tăng trưởng nhiều khả năng sẽ được củng cố và chu kỳ phát triển tích cực sẽ tiếp tục kéo dài.
Ý nghĩa to lớn của việc Việt Nam theo đuổi mục tiêu không chỉ nằm ở những kết quả kinh tế cụ thể đã đạt được, mà còn ở chỗ mô hình này cho thấy khả năng kết hợp giữa tự do hóa kinh tế và hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu với việc duy trì ổn định chính trị và vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền. Thực tiễn đó đặt ra một cách nhìn khác so với quan điểm phổ biến tại phương Tây, vốn cho rằng tự do hóa kinh tế tất yếu phải song hành với dân chủ hóa chính trị.
"Trường hợp Việt Nam cho thấy tồn tại một con đường hiện đại hóa khác, dựa trên việc vận dụng linh hoạt các cơ chế thị trường, đồng thời duy trì vai trò điều tiết của nhà nước và bảo đảm ổn định chính trị. Chính đặc điểm này đã khiến kinh nghiệm phát triển của Việt Nam trở nên có giá trị không chỉ đối với các quốc gia trong khu vực châu Á, mà còn đối với việc nhận diện và lý giải những quy luật rộng lớn hơn của quá trình phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế thế giới", ông Mazyrin nhấn mạnh.
Diệu Hương (thực hiện)














