Sửa đổi Bộ luật Hình sự: Hoàn thiện quy định về tội phạm công nghệ cao từ thực tiễn xét xử
Thực tiễn gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao cùng những bất cập trong áp dụng pháp luật đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng rõ ràng, thống nhất và có tính dự báo cao, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh số hóa.

Phiên họp lần thứ nhất của Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Ảnh: Bộ Công an
Sửa đổi để phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Bộ Công an đang triển khai xây dựng Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Theo đại diện Bộ, việc xây dựng dự án Luật được thực hiện trên cơ sở rà soát toàn diện các quan điểm, chủ trương của Đảng; hệ thống pháp luật có liên quan; các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đồng thời tổng kết hơn 8 năm thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Trên cơ sở đó, Bộ Công an đã xây dựng dự kiến 7 chính sách lớn trong dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và nội dung cụ thể hóa chính sách xây dựng dự án Luật.
Một trong những điều mới được Bộ Công an đề xuất bổ sung trong dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) là áp dụng mức phạt tù chung thân không xét giảm án vào danh mục các hình phạt với tội phạm, tại 14 tội danh.
Theo đó, tù chung thân không xét giảm án được hiểu " là hình phạt tù không thời hạn và không được xem xét giảm hình phạt đã tuyên, trừ trường hợp đại xá, ân giảm hoặc Luật Đặc xá có quy định khác, được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình”. Án phạt này được đề xuất áp dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị tuyên tử hình. Thời hiệu thi hành bằng thời hiệu của án tù chung thân và tử hình, tức 20 năm.
Hình phạt tù chung thân không xét giảm án sẽ không áp dụng với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
Người bị kết án tù chung thân không xét giảm án về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà trước, trong và sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì được giảm xuống thành tù chung thân...
Về việc sửa đổi Bộ luật Hình sự, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Văn Tuyến khẳng định, một trong những yêu cầu trọng tâm là phải kịp thời khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đồng thời nâng cao tính dự báo của pháp luật, đặc biệt đối với các loại tội phạm mới như tội phạm công nghệ cao, tội phạm trên không gian mạng và liên quan đến trí tuệ nhân tạo.
Số liệu thực tiễn cho thấy nhiều “điểm nghẽn” pháp lý
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật, các ý kiến chuyên gia cho rằng các quy định hiện hành của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 bộc lộ những “khoảng trống”, đặc biệt trong xử lý tội phạm công nghệ cao.
Luật sư Đỗ Thị Thành Nhàn, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho biết, qua theo dõi thực tiễn xét xử, số lượng các vụ án liên quan đến tội phạm sử dụng công nghệ cao có xu hướng gia tăng rõ rệt qua từng năm, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số các vụ án xâm phạm sở hữu và an toàn thông tin mạng. Tuy nhiên, việc định danh tội danh và áp dụng điều luật trong nhiều trường hợp còn thiếu thống nhất.

Nhóm đối tượng người nước ngoài phạm tội bị bắt giữ tại Hà Nội. Ảnh: CACC
Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2019 – 2023, toàn quốc đã giải quyết 536 vụ án với 1.133 bị cáo liên quan đến các tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Trong đó, số vụ án tăng nhanh qua từng năm: năm 2019 có 47 vụ (73 bị cáo), năm 2020 có 65 vụ (127 bị cáo), năm 2021 có 98 vụ (191 bị cáo), năm 2022 có 124 vụ (293 bị cáo), năm 2023 lên tới 202 vụ (449 bị cáo).
Tuy nhiên, con số này vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng thể các vụ án hình sự trên cả nước (373.666 vụ với 675.666 bị cáo), tương ứng chỉ khoảng 0,14% số vụ và 0,17% số bị cáo. Điều này cho thấy thực tiễn xét xử chưa phản ánh đầy đủ tính chất, mức độ và quy mô của tội phạm công nghệ cao.
Đáng chú ý, hình phạt áp dụng đối với nhóm tội phạm chủ yếu là tù có thời hạn, nhưng tỷ lệ bị cáo bị tuyên dưới 3 năm tù và cho hưởng án treo còn cao. Trong khi đó, các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản lại ít được áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu răn đe trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao thường có yếu tố thu lợi lớn.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật. Cùng một hành vi sử dụng mạng internet để chiếm đoạt tài sản, có vụ bị xử lý về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng có vụ lại bị xử lý về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản”. Sự không thống nhất này dẫn đến khác biệt trong định khung hình phạt và gây khó khăn trong quá trình tố tụng.
Ngoài ra, qua nghiên cứu các bản án, phần lớn các vụ việc tập trung vào tội danh sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sản; trong khi nhiều hành vi khác như phát tán mã độc, tấn công hệ thống, xâm nhập dữ liệu… chưa được xử lý tương xứng hoặc còn thiếu quy định cụ thể.
Một điểm đáng chú ý khác, đặc điểm nhân thân của người phạm tội: đa số bị cáo ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 30 tuổi, có trình độ công nghệ cao, thậm chí có yếu tố nước ngoài, khiến việc điều tra, truy tố gặp nhiều khó khăn.
Từ những bất cập nêu trên, luật sư Đỗ Thị Thanh Nhàn cho rằng, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự lần này cần được xem như một cuộc “tổng rà soát” nhằm loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn; đồng thời xây dựng một tấm lưới pháp lý đủ chặt để bao quát các loại tội phạm phi truyền thống, đặc biệt là tội phạm công nghệ cao.
Theo đó, các quy định cần được cụ thể hóa, minh bạch hơn để bảo đảm áp dụng thống nhất, không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng, dễ hiểu cho cả người dân và cơ quan thực thi pháp luật.










