Sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Thêm một điểm tựa pháp lý cho người đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực

Cuối tuần qua, Báo Pháp luật Việt Nam phối hợp với Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp tổ chức Tọa đàm “Sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - từ lý luận đến thực tiễn”. TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước và TS. Nguyễn Thị Long, Giảng viên chính Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội tham dự Tọa đàm.

Bảo vệ tốt hơn quyền của người dân

Theo TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, sau gần 8 năm thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) năm 2017 đã tạo được một khuôn khổ pháp lý tương đối ổn định, góp phần bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy một số quy định của Luật chưa theo kịp sự thay đổi rất nhanh của hệ thống pháp luật và phương thức quản trị nhà nước hiện nay. Vướng mắc nổi bật nhất là phạm vi trách nhiệm bồi thường đang được thiết kế theo phương pháp liệt kê khá cụ thể. Trong khi đó, nhiều luật chuyên ngành được ban hành sau lại có những quy định khác về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, dẫn đến nguy cơ chồng chéo, thiếu thống nhất và có thể tạo ra khoảng trống pháp lý.

TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước

TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước

Bên cạnh đó, yêu cầu hiện nay không chỉ là bảo đảm quyền được bồi thường, mà còn phải tạo điều kiện để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Vì vậy, dự thảo lần này bổ sung cơ chế miễn, giảm hoàn trả đối với cán bộ, công chức thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Theo TS. Nguyễn Ngọc Vũ, một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật TNBTCNN lần này thể hiện việc thể chế hóa Quy định số 231 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo hướng ghi nhận quyền được bồi thường của người đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực khi cơ quan, người có thẩm quyền không thực hiện đúng hoặc đầy đủ các biện pháp bảo vệ, gây thiệt hại cho họ hoặc người thân.

Dự thảo cũng đổi mới đáng kể quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường, theo hướng giảm gánh nặng thủ tục cho người bị thiệt hại, đề cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước và bảo đảm vụ việc phải được giải quyết đến cùng; bổ sung cơ chế miễn, giảm hoàn trả đối với cán bộ, công chức thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Phó Cục trưởng Nguyễn Ngọc Vũ nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt của lần sửa đổi này là bảo vệ tốt hơn quyền của người dân, đồng thời xây dựng một cơ chế pháp lý linh hoạt hơn để Nhà nước có thể phản ứng chính sách kịp thời trước yêu cầu mới về quản trị quốc gia.

Cần có sự liên thông trong quy định về cơ chế bảo vệ người đấu tranh chống tiêu cực

Còn theo TS. Nguyễn Thị Long, Giảng viên chính Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội yêu cầu bảo vệ người đấu tranh và người thân của họ là một chính sách rất quan trọng, bởi nếu người phát hiện và đấu tranh không được bảo vệ thì rất khó khuyến khích họ thực hiện quyền và trách nhiệm của mình.

Cơ chế này không tách rời những quy định bảo vệ người đấu tranh đã được quy định trong các luật chuyên ngành. Ngược lại, dự thảo hướng tới sự kết hợp giữa Luật TNBTCNN với các quy định của pháp luật chuyên ngành để bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

TS. Nguyễn Thị Long, Giảng viên chính Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

TS. Nguyễn Thị Long, Giảng viên chính Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Long, không nhất thiết phải đưa toàn bộ nội hàm hay biểu hiện của hành vi “tiêu cực” vào Luật TNBTCNN. Bởi trong từng lĩnh vực, biểu hiện của hành vi tiêu cực có thể khác nhau và nhiều luật chuyên ngành đã có những quy định cụ thể về hành vi cán bộ, công chức được làm, không được làm.

Thực tế, pháp luật hiện hành cũng đang xử lý vấn đề này theo cách phân tán nhưng có liên kết. Chẳng hạn, Luật Cán bộ, công chức đặt ra các quy tắc về thực thi công vụ, những việc cán bộ, công chức không được làm và trách nhiệm trong thực hiện công vụ; Luật Tố cáo quy định về quyền của người tố cáo, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền và các biện pháp bảo vệ người tố cáo; còn khi hành vi có dấu hiệu tội phạm thì Bộ luật Tố tụng hình sự có cơ chế bảo vệ người tố giác và những chủ thể có liên quan theo tố tụng hình sự. - TS. Nguyễn Thị Long chia sẻ

Theo TS. Nguyễn Thị Long các “mảnh ghép” pháp lý về bảo vệ người đấu tranh chống tiêu cực cơ bản đã tồn tại ở nhiều đạo luật; vấn đề đặt ra là làm thế nào để các mảnh ghép đó liên thông với Luật TNBTCNN. Vì vậy, Luật TNBTCNN được định hướng như một đạo luật khung, quy định những nguyên tắc và cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường một cách khái quát, còn các biểu hiện cụ thể của hành vi tiêu cực có thể được xác định trong từng lĩnh vực thông qua pháp luật chuyên ngành.

Từ những phân tích thực tiễn, TS. Nguyễn Thị Long cho rằng Luật TNBTCNN cần xác định hậu quả pháp lý khi nghĩa vụ bảo vệ đã được pháp luật xác lập nhưng cơ quan nhà nước không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không kịp thời và gây thiệt hại.

M.Khang

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/sua-doi-luat-trach-nhiem-boi-thuong-cua-nha-nuoc-them-mot-diem-tua-phap-ly-cho-nguoi-dau-tranh-chong-tham-nhung-tieu-cuc.html