Sức khỏe của thế hệ ít ăn đường ra sao sau 70 năm?
Nghiên cứu từ "thí nghiệm tự nhiên" thời hậu chiến ở Anh cho thấy việc hạn chế đường trong 1.000 ngày đầu đời có liên hệ với nguy cơ thấp hơn của nhiều vấn đề sức khỏe về sau.

Trong thời kỳ hậu chiến, Anh từng áp dụng chế độ phân phối đường, giới hạn người trưởng thành ở khoảng 40 g/ngày và trẻ em dưới một thìa canh. Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ được khuyến cáo sử dụng rất ít hoặc không thêm đường.
Đến tháng 2/1953, hạn chế với bánh kẹo và chocolate được dỡ bỏ, sau đó đến lượt đường vào tháng 9. Nửa cuối năm 1954, mức tiêu thụ đường trung bình gần tăng gấp đôi. Việc thay đổi chính sách đột ngột này vô tình tạo ra một "thí nghiệm tự nhiên" để các nhà khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của đường trong giai đoạn đầu đời một con người, theo The Guardian.
Đường trong 1.000 ngày đầu đời
"Điều khiến thời điểm chấm dứt phân phối đường trở nên đặc biệt đáng chú ý là tính chất của sự tiếp xúc này", tiến sĩ Jiazhen Zheng tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong (Trung Quốc), người tham gia thực hiện một số nghiên cứu gần đây, nói.
Theo Zheng, vào tháng 9/1953, khả năng tiếp cận đường thay đổi khá đột ngột trên quy mô dân số, chủ yếu do chính sách chứ không phải lựa chọn của từng cá nhân. Theo một nghĩa nào đó, lịch sử đã tạo ra một thí nghiệm mà chúng ta không bao giờ có thể chủ động tiến hành trên con người trong suốt cả cuộc đời.
Nghiên cứu đầu tiên trong làn sóng các công trình mới về chế độ phân phối đường được công bố trên tạp chí Science cách đây 2 năm. Tiến sĩ Tadeja Gracner tại Đại học Nam California cùng các cộng sự sử dụng dữ liệu từ UK Biobank để so sánh sức khỏe của những người sinh ra ngay trước và sau khi chế độ phân phối đường tại Anh kết thúc.
Gracner phát hiện những người trải qua thời gian phân phối đường càng lâu thì nguy cơ mắc tiểu đường type 2 và huyết áp cao ở tuổi trung niên và cao tuổi càng thấp. Cụ thể, những người chịu ảnh hưởng của chế độ này trong toàn bộ 1.000 ngày đầu đời có nguy cơ mắc tiểu đường type 2 thấp hơn 35% và nguy cơ huyết áp cao thấp hơn 20% so với những người chưa từng trải qua chế độ phân phối đường.

Các nghiên cứu phát hiện mối liên hệ giữa lượng đường sử dụng trong những năm đầu đời với các bệnh lý về sau.
Trong vài tháng qua, các nghiên cứu tiếp theo của nhóm Zheng và những nhóm khác, cũng sử dụng dữ liệu UK Biobank, đã liên hệ việc giảm tiếp xúc với đường với nguy cơ thấp hơn ở ngày càng nhiều vấn đề sức khỏe.
"Trong các nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mối liên hệ với bệnh tim mạch, bệnh gan, sức khỏe hô hấp, chứng mất trí nhớ và những chỉ số rộng hơn về quá trình lão hóa", Zheng nói.
Ví dụ, nghiên cứu về lão hóa của nhóm ông cho thấy những người từng tiếp xúc với chế độ phân phối đường khi còn nhỏ có tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến những dấu hiệu đặc trưng của lão hóa thấp hơn. Đồng thời, tuổi sinh học và tuổi của một số cơ quan họ trẻ hơn ở mức khiêm tốn.
Có lẽ đáng chú ý hơn là dấu hiệu cho thấy những tác động này có thể vượt ra ngoài sức khỏe thể chất. Tháng 8, giáo sư Nophar Geifman tại Đại học Surrey (Anh) cùng cộng sự công bố nghiên cứu cho thấy những người trải qua trọn 1.000 ngày đầu đời trong thời kỳ phân phối đường có nguy cơ mắc chứng lo âu thấp hơn 33% so với những người sinh ra sau khi chế độ này kết thúc.
Họ cũng ít có xu hướng cho biết mình thích những thực phẩm có vị ngọt nhiều thập kỷ sau đó.
Dấu ấn sức khỏe kéo dài nhiều thập kỷ
Việc một khác biệt tương đối ngắn về mức độ tiếp xúc với đường có thể để lại dấu vết được phát hiện nhiều thập kỷ sau vẫn chưa được giải thích rõ.
"Chúng tôi có thể cho thấy việc lớn lên với ít đường hơn có tác dụng bảo vệ nhiều thập kỷ sau đó song chưa thể xác định bằng cách nào. Liệu là do bản thân đường, do khẩu vị hình thành từ sớm hay do một phản ứng chuyển hóa được thiết lập trong giai đoạn đầu đời", Gracner nói.
Nghiên cứu mới nhất của nhóm bà cho thấy việc lớn lên trong thời kỳ phân phối đường có thể làm suy yếu ảnh hưởng của các gene khiến con người có xu hướng sở hữu trọng lượng cơ thể cao hơn.
"Chúng tôi nhận thấy những người từng trải qua chế độ phân phối đường tiêu thụ ít đường tự do hơn khi trưởng thành. Tuy nhiên, chúng tôi cũng phát hiện sự khác biệt về chế độ ăn này tương tự giữa các nhóm có mức nguy cơ di truyền khác nhau", Gracner nói.
Theo bà, điều đó cho thấy đây không hoàn toàn là một phản ứng mang tính hành vi. Dinh dưỡng trong giai đoạn đầu đời có thể tác động đến các con đường sinh lý như quá trình lập trình chuyển hóa, độ nhạy insulin, cơ chế điều chỉnh cảm giác thèm ăn và no, hoặc sự phát triển của mô mỡ.

Nghiên cứu cho thấy những người từng tiếp xúc với chế độ phân phối đường khi còn nhỏ có tuổi sinh học và tuổi của một số cơ quan trẻ hơn ở mức khiêm tốn.
Geifman cho rằng não bộ phát triển nhanh chóng khi còn trong bụng mẹ và trong vài năm đầu đời, khiến cơ quan này có thể đặc biệt nhạy cảm với môi trường dinh dưỡng. Chế độ ăn nhiều đường cũng được liên hệ với tình trạng viêm và sự thay đổi hệ vi sinh đường ruột - cả hai đều có thể là con đường để đường tác động đến chức năng não.
Nghiên cứu về lão hóa của Zheng cho thấy những người từng trải qua chế độ phân phối đường có điểm số tương đương với độ tuổi sinh học trẻ hơn khoảng một năm ở một số chỉ số. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện sự khác biệt ở những protein liên quan đến các con đường giúp tế bào phản ứng với chất dinh dưỡng và từng được xác định có liên quan đến quá trình lão hóa.
Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chứng minh rằng sự khác biệt về lượng đường tiêu thụ trong giai đoạn đầu đời là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những khác biệt về sức khỏe sau này.
"Không có hàm ý về quan hệ nhân quả ở đây. Đây là một mối liên hệ", Geifman nói.
Nhiều nghiên cứu gần đây cũng sử dụng những nhóm người tham gia UK Biobank có sự chồng lấn, do đó chưa thể được xem là những nghiên cứu tái lập độc lập.
"Bằng chứng mạnh nhất cuối cùng sẽ đến từ việc đối chiếu kết quả trên các bộ dữ liệu độc lập và những thiết kế nghiên cứu khác nhau", Gracner nói.

Vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu để xác định tác động của việc sử dụng đường trong những năm đầu đời đến sức khỏe về sau.
LH Lumey, giáo sư danh dự về dịch tễ học tại Trường Y tế Công cộng Columbia Mailman (Mỹ) nhận định những phát hiện này là "một bước khởi đầu tuyệt vời, nhưng chưa phải lời kết luận cuối cùng". Theo ông, cần nghiên cứu thêm các kết quả để xác định liệu nguy cơ thực sự cao hơn 30% hay 50%. Bên cạnh đó, liệu tác động có liên quan đến toàn bộ 1.000 ngày đầu đời hay chỉ giai đoạn thai kỳ.
Ngay cả khi chứng minh được những mối liên hệ này có quan hệ nhân quả, các nghiên cứu hiện tại cũng chưa thể cho cha mẹ biết chính xác bao nhiêu đường là quá nhiều. Các nhà khoa học cũng chưa thể xác định một "thời điểm vàng" duy nhất.
"Bức tranh đang dần hình thành cho thấy toàn bộ 1.000 ngày đầu đời có thể đóng vai trò quan trọng, trong đó thai kỳ và giai đoạn chuyển sang ăn dặm có thể là những thời điểm đáng chú ý", Zheng nói.
Câu hỏi mà những nghiên cứu này đặt ra không phải là liệu trẻ sơ sinh ngày nay có nên trải qua tình trạng thiếu thốn như thời chiến hay không. Đó là liệu việc duy trì lượng đường tiêu thụ ở mức gần với khuyến nghị hiện hành có thể mang lại những lợi ích cho sức khỏe kéo dài đến giai đoạn sau của cuộc đời, nhiều hơn những gì chúng ta từng nhận thức hay không.


