Sức mạnh mềm Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 - Bài học trong kỷ nguyên mới

Đại thắng mùa Xuân 1975 là một trong những mốc son chói lọi nhất lịch sử dân tộc Việt Nam, không chỉ bởi đã hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mà còn bởi đó là sự kết tinh rực rỡ của toàn bộ sức mạnh dân tộc được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử và được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đó là nghệ thuật kiến tạo sức mạnh tổng hợp đạt tới trình độ đỉnh cao, trong đó các yếu tố chính trị, quân sự, văn hóa, tinh thần, đối ngoại và tổ chức xã hội không tồn tại tách biệt mà được kết nối, cộng hưởng và tối ưu hóa trong một chỉnh thể thống nhất. Chính ở đây, sức mạnh mềm Việt Nam đã được phát huy đến mức cao nhất, dẫn dắt, quy tụ và khuếch đại mọi nguồn lực, từ lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, ý chí quật cường, chủ nghĩa anh hùng cách mạng đến sức hấp dẫn của chính nghĩa và lý tưởng tiến bộ. Sức mạnh ấy không chỉ nuôi dưỡng ý chí chiến đấu trong lòng dân tộc mà còn lan tỏa ra thế giới, tạo nên sự đồng cảm, ủng hộ rộng lớn của cộng đồng quốc tế, đồng thời làm suy giảm ý chí và tính chính danh của đối phương.

Biểu tượng của một phương thức kiến tạo sức mạnh quốc gia

Điều đặc biệt làm nên tầm vóc của Đại thắng mùa Xuân 1975 chính là khả năng chuyển hóa toàn bộ những giá trị tinh thần, tư tưởng và văn hóa đó thành sức mạnh hiện thực trên chiến trường thông qua một hệ thống lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức ở trình độ cao, trí tuệ chiến lược, bản lĩnh chính trị và nghệ thuật quân sự hòa quyện thành một chỉnh thể sống động. Ở đó, sức mạnh cứng được nâng đỡ và khuếch đại bởi sức mạnh mềm, còn toàn bộ hệ thống được điều hành bằng một tư duy chiến lược mang tính tổng hợp và linh hoạt, tạo nên một dạng “sức mạnh vượt trội” có khả năng làm thay đổi cục diện trong thời gian ngắn.

Đại thắng mùa Xuân 1975 không chỉ là chiến thắng của một cuộc chiến tranh mà còn là biểu tượng của một phương thức kiến tạo sức mạnh quốc gia mang tầm thời đại, để lại cho chúng ta một di sản vô giá về tư duy, về ý chí và về nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp. Đó chính là nguồn cảm hứng và nền tảng lý luận vững chắc để dân tộc Việt Nam tiếp tục vươn lên mạnh mẽ, tự tin và chủ động trong hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Những vị khách quốc tế tham quan khu trưng bày các sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam năm 2024. Ảnh: LIÊN VIỆT

Những vị khách quốc tế tham quan khu trưng bày các sản phẩm công nghiệp quốc phòng Việt Nam tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam năm 2024. Ảnh: LIÊN VIỆT

Trước hết, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện tập trung ở hệ giá trị, cốt cách và truyền thống dân tộc, tạo nên nền tảng tinh thần vững chắc cho toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng và chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ được khẳng định về mặt tư tưởng mà đã được chuyển hóa thành hành động chiến lược đồng bộ trên toàn chiến trường. Trong đó, sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến, quên mình vì độc lập, tự do của hàng triệu người dân, từ tiền tuyến đến hậu phương, đã tạo nên chiều sâu đặc biệt của sức mạnh dân tộc, làm nên một ý chí chiến đấu không gì lay chuyển. Khi các binh đoàn chủ lực đồng loạt mở các hướng tiến công, thì ngay trong lòng các đô thị, quần chúng nhân dân đã chủ động nổi dậy, phá vỡ từng mảng kiểm soát của đối phương. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa bàn trọng yếu, ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ trước khi lực lượng chủ lực tiếp quản, phản ánh rõ sự tan rã từ nền tảng chính trị-xã hội. Đây là minh chứng điển hình cho việc hệ giá trị dân tộc đã được phát huy đến đỉnh cao, trở thành lực lượng trực tiếp làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Hai là, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện rõ nét ở không gian văn hóa-tinh thần cách mạng, được tổ chức chặt chẽ, bám sát chiến trường và trực tiếp phục vụ nhiệm vụ chiến lược. Trong suốt quá trình tổng tiến công, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, báo chí, tuyên truyền được duy trì liên tục, tạo nên dòng chảy thông tin thống nhất, củng cố niềm tin tất thắng trong toàn xã hội. Hình ảnh các đoàn văn công biểu diễn trên tuyến lửa, những bản tin chiến thắng được truyền đi kịp thời, cùng khí thế “tiếng hát át tiếng bom” đã trở thành hiện thực sống động, góp phần giữ vững nhịp tiến công trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Chính sức mạnh tinh thần này đã bảo đảm cho LLVT duy trì cường độ tiến công cao, liên tục phát triển thế trận trong 55 ngày đêm chiến lược, tạo nên tốc độ tiến công mang tính đột phá, dẫn tới thắng lợi hoàn toàn.

Ba là, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện rõ ở khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đóng vai trò định hướng chiến lược và tạo động lực bền vững cho toàn bộ cuộc chiến tranh. Đây không chỉ là mục tiêu chính trị mà là niềm tin đã được kiểm chứng bằng thực tiễn, đặc biệt từ sự phát triển của hậu phương lớn miền Bắc. Chính niềm tin đó đã quy tụ toàn dân tộc trong một ý chí thống nhất, tạo nên sức mạnh tinh thần vượt qua mọi hy sinh, gian khổ. Đồng thời, khát vọng này còn tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ trên trường quốc tế, thu hút sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng tiến bộ. Thực tiễn đã chứng minh, khi mục tiêu chiến lược có tính chính danh và sức hấp dẫn cao, nó không chỉ củng cố nội lực mà còn mở rộng ngoại lực, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của Tổng tiến công.

Bốn là, "thế trận lòng dân" và khả năng huy động toàn xã hội, tạo nên nền tảng chính trị-xã hội vững chắc cho mọi hoạt động tác chiến là nền tảng sức mạnh mềm to lớn. Nhân dân không chỉ là hậu phương mà còn là lực lượng trực tiếp tham gia chiến tranh, từ bảo đảm hậu cần, dẫn đường, cung cấp thông tin đến nổi dậy giành chính quyền. Trong thời điểm quyết định, sự phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng đã làm tê liệt hệ thống đối phương trên diện rộng. Thực tế cho thấy, nhiều đơn vị đối phương tan rã không phải do bị tiêu diệt hoàn toàn, mà do mất chỗ dựa xã hội và niềm tin chính trị. Đây là minh chứng rõ ràng cho sức mạnh mềm được phát huy ở cấp độ cao nhất, khi lòng dân trở thành yếu tố trực tiếp làm thay đổi tương quan lực lượng.

Năm là, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sự cộng hưởng chiến lược làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng. Trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến, Việt Nam đã tranh thủ tối đa sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời tận dụng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào phản chiến trên thế giới, đặc biệt tại Hoa Kỳ và các nước phương Tây. Việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973, buộc Hoa Kỳ rút toàn bộ lực lượng chiến đấu khỏi miền Nam Việt Nam, là minh chứng điển hình cho hiệu quả của việc chuyển hóa môi trường quốc tế thành lợi thế chiến lược. Khi bước vào mùa xuân 1975, tương quan lực lượng đã thay đổi rõ rệt: Đối phương suy giảm nghiêm trọng về ý chí chính trị và khả năng hỗ trợ từ bên ngoài, trong khi Việt Nam hội tụ đầy đủ điều kiện để phát động tổng tiến công. Đây là kết quả trực tiếp của việc phát huy sức mạnh mềm ở tầm quốc tế, tạo thế chiến lược thuận lợi trước khi nổ ra các chiến dịch quyết định.

Sáu là, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện rõ ở nghệ thuật ngoại giao mềm dẻo, chủ động “thêm bạn, bớt thù”, phân hóa và cô lập đối phương, góp phần tạo ra môi trường quốc tế có lợi cho chiến tranh cách mạng. Trong suốt quá trình kháng chiến, Việt Nam đã thiết lập và củng cố quan hệ với hàng chục quốc gia, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của các tổ chức quốc tế và lực lượng tiến bộ. Đến đầu năm 1975, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam đã lan rộng tại hơn 60 quốc gia, tạo sức ép lớn đối với chính quyền Mỹ. Trong khi đó, nội bộ đối phương ngày càng phân hóa, tinh thần binh lính suy giảm rõ rệt. Kết quả là đối phương không còn khả năng huy động sự ủng hộ quốc tế, bị cô lập cả về chính trị và tinh thần, tạo điều kiện trực tiếp cho các chiến dịch quân sự của ta phát triển với tốc độ nhanh và hiệu quả cao.

Bảy là, sức mạnh mềm Việt Nam được thể hiện ở nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược của Đảng trong việc tích hợp và tối ưu hóa toàn bộ các nguồn lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp vượt trội. Đây chính là điểm đột phá mang tính quyết định. Bộ Chính trị đã đánh giá chính xác thời cơ chiến lược, chuyển từ tiến công cục bộ sang tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam. Thực tiễn chứng minh, chỉ trong vòng 55 ngày đêm, từ Chiến dịch Tây Nguyên (tháng 3-1975) đến Chiến dịch Hồ Chí Minh (kết thúc ngày 30-4-1975), toàn bộ hệ thống phòng thủ của đối phương bị đánh sập hoàn toàn. Riêng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, 5 cánh quân chủ lực với lực lượng hàng chục vạn người đã đồng loạt tiến công, giải phóng Sài Gòn trong thời gian ngắn, kết thúc chiến tranh. Đây không chỉ là thắng lợi quân sự, mà là kết quả của sự tích hợp hoàn hảo giữa ý chí chính trị, "thế trận lòng dân", ngoại giao, văn hóa và nghệ thuật quân sự.

Diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 2-9-2025. Ảnh: TRỌNG HẢI

Diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 2-9-2025. Ảnh: TRỌNG HẢI

Đặc biệt, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa sức mạnh mềm và sức mạnh cứng, từ đó hình thành và phát huy “thời, thế, lực” mang tính quyết định đối với cục diện chiến tranh. Trong quá trình đó, sức mạnh mềm không chỉ dừng lại ở việc củng cố lòng dân, lan tỏa chính nghĩa và tạo môi trường thuận lợi, mà còn được tích hợp sâu vào toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức chiến lược, gắn kết hữu cơ với sức mạnh quân sự và các nguồn lực vật chất. Chính sự kết hợp này đã tạo nên một dạng sức mạnh tổng hợp ở trình độ cao, các yếu tố chính trị, quân sự, văn hóa, đối ngoại và tổ chức xã hội được điều phối thống nhất, vận hành linh hoạt và phát huy tối đa hiệu quả. Trên cơ sở đó, toàn bộ sức mạnh dân tộc được chuyển hóa thành khả năng hành động chiến lược chủ động, linh hoạt và quyết đoán, tạo điều kiện để các chiến dịch phát triển nhanh, liên tục và đạt hiệu quả cao, dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của toàn bộ hệ thống đối phương và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tiễn đó cho thấy, khi sức mạnh mềm và sức mạnh cứng được kết hợp đúng đắn trong một chỉnh thể thống nhất, dưới sự lãnh đạo và điều hành chiến lược khoa học, sẽ tạo ra ưu thế vượt trội có khả năng quyết định cục diện.

"Sức mạnh thông minh" trong kỷ nguyên phát triển mới

Những giá trị cao quý của sức mạnh mềm Việt Nam trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 không chỉ làm nên một chiến thắng lịch sử, mà còn kết tinh thành hệ quy chiếu chiến lược có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trước hết, đó là bài học về khơi dậy và tổ chức sức mạnh của hệ giá trị dân tộc, củng cố niềm tin xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân như nền tảng nội sinh mang tính quyết định, bảo đảm cho mọi chủ trương phát triển được chuyển hóa thành hành động thống nhất. Đồng thời, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội tiếp tục giữ vai trò định hướng chiến lược, tạo nên sức hấp dẫn giá trị và củng cố tính chính danh của chế độ trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về mô hình phát triển.

Bài học về xây dựng và phát huy “thế trận lòng dân”, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cũng như nghệ thuật đối ngoại “thêm bạn, bớt thù” đặt ra yêu cầu phải chủ động hội nhập, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia, đồng thời tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển. Ở tầm cao hơn, việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh mềm và sức mạnh cứng, hình thành “sức mạnh thông minh” trong điều hành chiến lược, trở thành điều kiện tiên quyết để tạo ra thế và lực mới, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa.

Thứ nhất, cần tập trung xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong thời đại mới như nền tảng cốt lõi của sức mạnh mềm. Đây không chỉ là yêu cầu về văn hóa mà là nhiệm vụ chiến lược nhằm củng cố bản lĩnh dân tộc, tạo sức đề kháng xã hội trước các tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và không gian mạng. Trọng tâm là tiếp tục khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam hiện đại, hội nhập nhưng không hòa tan. Để hiện thực hóa, cần đồng bộ hóa chính sách văn hóa, giáo dục, truyền thông, kết hợp giữa truyền thống và đổi mới sáng tạo, biến hệ giá trị thành nguồn lực nội sinh trực tiếp của phát triển.

Thứ hai, kiên định và phát huy sức mạnh của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin chính trị và tính chính danh của chế độ như một trụ cột của sức mạnh mềm quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh mô hình phát triển ngày càng gay gắt, việc giữ vững ổn định chính trị, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và bảo đảm lợi ích thiết thực của nhân dân chính là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và sức lan tỏa của Việt Nam. Trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đồng thời không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thứ ba, chủ động kiến tạo và phát huy “thế trận lòng dân” gắn với kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước. Trong điều kiện các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, việc xây dựng sự đồng thuận xã hội, nâng cao “miễn dịch nhận thức” và tăng cường năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đồng thời, cần mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ đối ngoại, tranh thủ tối đa các nguồn lực quốc tế, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương, từ đó nâng cao vị thế, uy tín quốc gia.

Thứ tư, nâng cao năng lực tích hợp, điều phối và kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh mềm và sức mạnh cứng, từng bước hình thành “sức mạnh thông minh” trong quản trị và bảo vệ Tổ quốc. Đây là yêu cầu mang tính đột phá, đòi hỏi phải chuyển từ tư duy phát huy từng yếu tố riêng lẻ sang tư duy kiến tạo sức mạnh tổng hợp. Trọng tâm là gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; kết hợp sức mạnh văn hóa, chính trị với khoa học-công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược, nắm bắt thời cơ, tạo thế và lực mới, chủ động phòng ngừa và xử lý các thách thức từ sớm, từ xa. Khi đạt tới trình độ này, sức mạnh mềm Việt Nam không chỉ hỗ trợ mà sẽ giữ vai trò dẫn dắt, khuếch đại và tối ưu hóa toàn bộ sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Đông đảo nhân dân chào đón cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025). Ảnh: TUẤN HUY

Đông đảo nhân dân chào đón cán bộ, chiến sĩ Quân đội tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025). Ảnh: TUẤN HUY

Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ chiến lược: “Phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước”(1). Đây là sự phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, phản ánh bước chuyển từ nhận thức sức mạnh mềm như một nguồn lực bổ trợ, gián tiếp sang vai trò là một yếu tố cấu thành trực tiếp của năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trong hệ thống quốc tế.

Quán triệt và triển khai sâu rộng tinh thần trên, để tiếp tục kiến tạo và phát huy sức mạnh mềm Việt Nam trong tình hình mới, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, đồng thời phát huy cao độ vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho toàn bộ hệ thống sức mạnh quốc gia vận hành thống nhất, hiệu lực và hiệu quả. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là biểu tượng sinh động của sức mạnh mềm thông qua hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với đối ngoại, giữa sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị-tinh thần, góp phần tạo dựng “thế trận lòng dân” vững chắc từ sớm, từ xa. Toàn bộ hệ thống chính trị phải vận hành như một chỉnh thể thống nhất, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên trở thành một chủ thể lan tỏa giá trị, củng cố niềm tin, kết nối ý chí và hành động của toàn xã hội.

Khi sức mạnh mềm được kiến tạo trên nền tảng lãnh đạo đúng đắn, quản trị hiệu quả và sự đồng thuận sâu sắc của nhân dân, nó sẽ bùng nổ thành nguồn động lực chiến lược, đưa đất nước vững vàng trong hòa bình, bứt phá trong phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và vươn mình mạnh mẽ, hiên ngang bước vào tương lai với khí thế mới, tầm vóc mới và khát vọng lớn lao của dân tộc Việt Nam.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bản PDF, tr.29

Trung tướng, PGS, TS LÊ VĂN HẢI, Phó chính ủy Học viện Quốc phòng

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/nghe-thuat-quan-su-vn/suc-manh-mem-viet-nam-trong-tong-tien-cong-va-noi-day-mua-xuan-1975-bai-hoc-trong-ky-nguyen-moi-1037021