Suy giảm, suy thoái đất nông nghiệp: Thách thức hiện hữu
Suy giảm và suy thoái đất nông nghiệp đang trở thành một trong những thách thức 'kép' đối với quá trình phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nếu như trước đây, câu chuyện thiếu vốn, thiếu kỹ thuật hay thị trường đầu ra được xem là những điểm nghẽn chính, thì hiện nay, chính quỹ đất - tư liệu sản xuất cốt lõi của nông nghiệp lại đang dần thu hẹp và suy giảm chất lượng, tạo áp lực ngày càng lớn lên mục tiêu phát triển bền vững.

Gia đình anh Lò Văn Tuấn, bản Lĩnh, xã Mường Pồn khắc phục diện tích đất trồng lúa nước bị vùi lấp do thiên tai.
Những năm qua, diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ phát triển hạ tầng, đô thị hóa và các dự án kinh tế - xã hội. Ngoài ra thiên tai, biến đổi khí hậu cũng làm suy giảm diện tích đất nông nghiệp. Điển hình, trận lũ quét xảy ra tại xã Mường Pồn tháng 7/2024 làm 81,2ha đất sản xuất nông nghiệp bị vùi lấp; trong đó đất trồng cây hàng năm là 79,09ha, đất trồng cây lâu năm 1,37ha, đất lâm nghiệp 0,38ha và đất nuôi trồng thủy sản 0,37ha. Đến nay sau gần 2 năm, nhưng nhiều diện tích vẫn chưa thể phục hồi, không thể canh tác.
Anh Lò Văn Tuấn, bản Lĩnh, xã Mường Pồn cho biết, gia đình anh có khoảng 4.000m2 ruộng bị đất đá vùi lấp sau đợt thiên tai năm 2024, đến nay vẫn chưa thể cải tạo hoàn toàn. Dù đã huy động nhân lực, chi phí để san gạt, nhưng lớp đất dày, lẫn đá khiến việc phục hồi rất khó khăn. Nhiều diện tích buộc phải bỏ hoang hoặc canh tác cầm chừng, năng suất giảm rõ rệt.
Cùng với thiên tai, để đẩy mạnh phát triển hạ tầng, đô thị hóa và thu hút đầu tư, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển sang đất phi nông nghiệp để phục vụ các dự án giao thông, công nghiệp, dịch vụ. Như dự án khu dân cư thương mại xã Thanh Hưng, Thanh Chăn cũ thu hồi 24,20ha đất trồng lúa 2 vụ; dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 với diện tích 38,30ha; dự án Khu đô thị mới Him Lam (phường Điện Biên Phủ); dự án đầu tư xây dựng mở rộng Cảng Hàng không Điện Biên…
Theo kết quả kiểm kê đất đai, tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh hiện đạt 887.945ha. Đất trồng cây hàng năm 435.930ha, giảm tới 9.026ha so với năm 2019. Trong đó, đất trồng lúa diện tích năm 2024 hơn 88.584ha giảm 296,46ha; riêng đất chuyên trồng lúa giảm hơn 201ha. Đáng chú ý, đất trồng cây hàng năm khác giảm tới 8.729ha, cho thấy sự dịch chuyển đáng kể trong cơ cấu sử dụng đất. Diện tích đất trồng cây lâu năm hơn 18.952ha giảm so với năm 2019 là 890,70ha.
Không chỉ giảm về diện tích, chất lượng đất nông nghiệp cũng đang suy giảm đáng lo ngại. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là các vùng canh tác nương, hiện tượng xói mòn, rửa trôi và bạc màu đất diễn ra ngày càng phổ biến. Tập quán sản xuất thiếu bền vững, việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đã làm suy kiệt cấu trúc đất. Cùng với đó, tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu như mưa lớn, hạn kéo dài càng khiến đất thoái hóa nhanh, độ phì giảm mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Hiện toàn tỉnh có hơn 887.945ha đất nông nghiệp, nhưng phần lớn diện tích đất có độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng, khả năng khai thác cho sản xuất nông nghiệp hiệu quả không cao. Cụ thể, quỹ đất phù hợp cho gieo trồng lúa nước chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích tự nhiên; quỹ đất thích hợp cho cây ngắn ngày khác chiếm khoảng 1,6%; quỹ đất thích hợp cho phát triển cây dài ngày theo phương thức nông lâm kết hợp chiếm khoảng 18%.
Sự suy giảm cả về diện tích và chất lượng đất nông nghiệp đã tạo nên “thách thức kép”, buộc ngành nông nghiệp tỉnh đối mặt với bài toán vừa phải đảm bảo sản lượng, vừa phải nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích. Thực tế sản xuất cho thấy, dù sản lượng lương thực năm 2025 vẫn đạt hơn 289.646 tấn, song mức tăng trưởng không cao, thậm chí một số cây trồng chủ lực như lúa còn giảm sản lượng so với năm trước. Điều này phản ánh rõ tác động của việc suy giảm chất lượng đất cũng như hạn chế về quỹ đất canh tác.
“Trước kia đất còn tơi xốp, màu mỡ, trồng lúa nương hay ngô đều cho năng suất khá, nhưng vài năm gần đây đất bạc màu thấy rõ, gia đình tôi phải tăng lượng phân bón mà năng suất vẫn không cải thiện. Gia đình tôi buộc phải chuyển đổi cây trồng để cải tạo đất và duy trì thu nhập; nếu tiếp tục canh tác như trước thì rất khó đảm bảo cuộc sống” - anh Mùa Chớ Sùng, bản Háng Lia, xã Na Son chia sẻ.
Ở góc độ sinh kế, đất đai thu hẹp hoặc suy thoái khiến thu nhập người dân bị ảnh hưởng rõ rệt. Trong bối cảnh tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của tỉnh còn cao (30,83%), áp lực mưu sinh từ nông nghiệp càng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo và chênh lệch phát triển giữa các vùng. Một vấn đề khác là mối liên hệ giữa suy thoái đất và môi trường sinh thái. Điện Biên là tỉnh đầu nguồn của nhiều hệ thống sông lớn, rừng và đất rừng đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ môi trường. Khi đất bị suy thoái, đặc biệt là ở các khu vực đồi núi dốc, nguy cơ sạt lở, lũ quét, hạn hán cục bộ gia tăng, ảnh hưởng không chỉ đến sản xuất nông nghiệp mà còn đến đời sống dân cư và môi trường.
Trước thực trạng đó, việc nhìn nhận đầy đủ và toàn diện về “thách thức kép” này là hết sức cần thiết để xây dựng các giải pháp phù hợp. Trước hết, cần siết chặt công tác quy hoạch và quản lý sử dụng đất, đảm bảo việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải được cân nhắc kỹ lưỡng, ưu tiên bảo vệ quỹ đất nông nghiệp có giá trị cao. Đồng thời, cần rà soát, khai thác hiệu quả quỹ đất chưa sử dụng - hiện vẫn còn hơn 38.875ha, dù phần lớn là đất dốc, song nếu có giải pháp phù hợp vẫn có thể đưa vào sử dụng theo hướng nông lâm kết hợp .
Bên cạnh đó, chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng bền vững là giải pháp mang tính căn cơ. Việc áp dụng các mô hình canh tác hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông lâm kết hợp không chỉ giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất mà còn nâng cao giá trị sản phẩm. Đặc biệt, trong điều kiện quỹ đất hạn chế, việc phát triển các cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng như cà phê, mắc ca, cây dược liệu… sẽ là hướng đi quan trọng để tăng giá trị trên đơn vị diện tích. Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, đặc biệt là các giải pháp cải tạo đất, chống xói mòn, giữ nước, nâng cao độ phì.
Việc đầu tư hệ thống thủy lợi, cải tạo đồng ruộng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm áp lực mở rộng diện tích. Một yếu tố không kém phần quan trọng là nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng đất bền vững. Thực tế cho thấy, nhiều diện tích đất bị suy thoái do tập quán canh tác lạc hậu, đốt nương, khai thác quá mức mà không có biện pháp phục hồi. Do đó, công tác tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật cần được đẩy mạnh, giúp người dân thay đổi tư duy, chuyển từ “khai thác” sang “bảo vệ và tái tạo” tài nguyên đất.
Trong bối cảnh Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc cân bằng giữa phát triển và bảo vệ tài nguyên đất càng trở nên cấp thiết. Có thể thấy, “thách thức kép” này vừa là khó khăn, nhưng cũng là cơ hội để tái cấu trúc nền nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững hơn. Khi quỹ đất không còn là lợi thế về số lượng, thì việc nâng cao chất lượng và giá trị sử dụng đất sẽ trở thành chìa khóa. Đây cũng là con đường tất yếu để nông nghiệp Điện Biên phát triển trong dài hạn, thích ứng với những biến động ngày càng lớn của tự nhiên và kinh tế - xã hội.











