Tái cấu trúc các chương trình khoa học công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai tái cấu trúc các chương trình nghiên cứu quốc gia nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa và nâng cao hiệu quả đầu tư khoa học, công nghệ.
Rà soát các chương trình khoa học, công nghệ quốc gia
Ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ cho biết, để triển khai Đề án tái cấu trúc, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, đồng thời tổ chức lại hệ thống chương trình theo 6 nhóm, gồm: Phát triển tiềm lực; nghiên cứu cơ bản; chương trình trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo; chương trình quốc gia đặc biệt; chuyển đổi số quốc gia.

Thực hiện thí nghiệm tại Phòng sạch thuộc Viện Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Trong đó, nhóm phát triển tiềm lực tập trung vào phát triển nguồn nhân lực, các tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng khoa học, công nghệ dùng chung. Nhóm nghiên cứu cơ bản hướng tới tạo ra tri thức mới, các khám phá khoa học và nền tảng cho phát triển công nghệ. Các chương trình trọng điểm quốc gia tập trung giải quyết những bài toán lớn có tính liên ngành, tạo ra sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển đất nước.
Đối với nhóm đổi mới sáng tạo, trọng tâm là thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt tập trung nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược. Trong khi đó, nhóm chuyển đổi số quốc gia phục vụ phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và đổi mới phương thức quản trị trên môi trường số.
Đề án đặt ra những mục tiêu cụ thể về mức độ tham gia của doanh nghiệp và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng phải có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện, tỷ lệ này tăng lên 60% vào năm 2035. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035.
Cùng với đó, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực, 20 sản phẩm trọng điểm, chiến lược và ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ. Đến năm 2035, các mục tiêu tương ứng là 50 nhóm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp và 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ.
Theo ông Hoàng Anh Tú, những chỉ tiêu này thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy quản lý khoa học, công nghệ. Việc tái cấu trúc không đơn thuần là sắp xếp lại các chương trình mà chính là "đổi mới phương thức tổ chức và quản trị khoa học, công nghệ quốc gia".
Thành công của các chương trình khoa học, công nghệ không chỉ được đo bằng số lượng công trình nghiên cứu mà phải thể hiện qua năng lực làm chủ công nghệ, số lượng và chất lượng sản phẩm được thương mại hóa, cũng như sự tham gia thực chất của doanh nghiệp.
17.000 tỉ đồng nhưng ít kết quả trở thành sản phẩm trên thị trường
Thực tế cho thấy, việc đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh vẫn là một trong những khâu hạn chế của hoạt động khoa học, công nghệ. Tại chương trình liên kết giữa các viện trường và doanh nghiệp mới đây, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định cho biết, dù nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đã được ban hành, mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế, nhất là trong xác định nhu cầu ứng dụng, huy động nguồn lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Một trong những biểu hiện rõ nét là sự mất cân đối giữa nguồn cung công nghệ và nhu cầu tìm mua trên thị trường. Tính đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch công nghệ được tổng hợp ghi nhận khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công, với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Đây là số liệu trong phạm vi các sàn được tổng hợp, chưa bao quát toàn bộ thị trường công nghệ.
Đáng chú ý, trong số 991 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, chỉ có 27 doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, tương đương khoảng 2,7%. Giai đoạn 2021 - 2025, doanh nghiệp chủ trì 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được tổng hợp, chiếm 12,5%.
Theo Bộ KH&CN, nguyên nhân trước hết là nhiều hoạt động nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu ứng dụng thực tế, trong khi doanh nghiệp thường tham gia muộn vào quá trình phát triển công nghệ. Do đó, các yêu cầu về tính năng, giá thành và khả năng tích hợp sản phẩm chưa được xác định ngay từ đầu, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, cơ chế góp vốn, định giá và khai thác kết quả nghiên cứu vẫn còn vướng mắc. Một số viện, trường lo ngại rủi ro khi quyết định thương mại hóa, định giá hoặc góp vốn bằng tài sản hình thành từ nghiên cứu.
Đặc biệt, quy định về hợp đồng tương tự trong mua sắm công có thể gây khó khăn cho những sản phẩm công nghệ được chế tạo lần đầu. Việc phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả hợp tác vẫn chủ yếu dựa trên số lượng nhiệm vụ, biên bản ghi nhớ, thay vì kết quả ứng dụng và giá trị thực tế mang lại.
Đánh giá về vấn đề này, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng, hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ đã tương đối hoàn thiện, với nhiều quy định đột phá về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nghiên cứu, chấp nhận rủi ro và đặt hàng. Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm hiện nay là tổ chức thực hiện, khắc phục tâm lý e ngại, sợ sai, không dám làm.
Phó Thủ tướng cho rằng quy mô liên kết vẫn còn nhỏ, chưa đồng đều, doanh nghiệp chưa thực sự giữ vai trò trung tâm. Dẫn số liệu giai đoạn 2021 - 2025, với 42 chương trình và khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu sử dụng 17.000 tỉ đồng nhưng có ít kết quả trở thành sản phẩm trên thị trường, Nguyên nhân trước hết là nhiều nhiệm vụ nghiên cứu chưa xuất phát từ bài toán phát triển và nhu cầu ứng dụng của doanh nghiệp.
Hạ tầng nghiên cứu dùng chung còn thiếu, nhiều phòng thí nghiệm xuống cấp; các sàn giao dịch công nghệ và tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ phát triển chậm.
Trước thực trạng này, Phó Thủ tướng yêu cầu việc đánh giá hiệu quả liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp phải dựa trên những nhiệm vụ thực tế được giải quyết, hợp đồng hợp tác và sản phẩm được ứng dụng, thay vì chỉ tính số lượng đề tài được triển khai hoặc nghiệm thu.
Những yêu cầu này cũng đặt ra đòi hỏi đối với quá trình tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ quốc gia: chuyển từ tư duy chú trọng đầu vào, số lượng nhiệm vụ sang lấy hiệu quả ứng dụng và năng lực làm chủ công nghệ làm thước đo. Trong đó, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng nghiên cứu đến tiếp nhận, hoàn thiện và thương mại hóa sản phẩm.
