Tái cấu trúc kinh tế Đông Nam Bộ trong không gian phát triển mới
Các chuyên gia đề xuất tái cấu trúc không gian phát triển Đông Nam Bộ, ưu tiên hạ tầng kết nối, phân bổ nguồn lực và giải quyết bài toán nhân lực sau sáp nhập.
Ngày 24/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Cơ cấu kinh tế - xã hội của các tỉnh Đông Nam Bộ sau sáp nhập: Thực trạng và định hướng phát triển” với sự tham gia các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các cơ quan, tổ chức, các trường đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn phía Nam.

Đường 25B kết nối sân bay Long Thành đang xây dựng. Ảnh: Công Phong - TTXVN
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Đông Nam Bộ là một không gian kinh tế - xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đây là vùng hội tụ nhiều lợi thế về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics, khoa học - công nghệ, đô thị hóa, nguồn nhân lực và khả năng kết nối trong nước, quốc tế. Trong bối cảnh mới, yêu cầu sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính không chỉ đặt ra những vấn đề về tổ chức bộ máy và quản trị địa phương, mà còn mở ra những yêu cầu nghiên cứu sâu sắc về tái cấu trúc không gian phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, phân bổ nguồn lực và tăng cường liên kết vùng.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng nhấn mạnh: Những thay đổi về không gian hành chính có thể tạo điều kiện để mở rộng quy mô phát triển, kết nối các nguồn lực, phát huy lợi thế bổ sung giữa các địa bàn. Tuy nhiên, để những tiềm năng đó trở thành động lực tăng trưởng thực chất, cần có cách tiếp cận toàn diện, dựa trên bằng chứng khoa học, đồng thời nhận diện đầy đủ những vấn đề đặt ra đối với hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường lao động, an sinh xã hội, quản trị và phát triển bền vững.
Kiến nghị các giải pháp cho việc tái cấu trúc không gian phát triển của Đông Nam Bộ sau sáp nhập, Tiến sĩ Hoàng Văn Tú, Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh, cho rằng cần ưu tiên dự án theo tác động mạng lưới, trong đó nhóm ưu tiên cao là các nút và tuyến làm giảm rõ thời gian giữa khu công nghiệp - cảng - sân bay - cửa khẩu, có khả năng giải tỏa điểm nghẽn và tạo kết nối đa phương thức.
Tiêu chí lựa chọn nên gồm thời gian rút ngắn, sản lượng hàng hóa có thể chuyển dịch, số địa phương cùng hưởng lợi và khả năng huy động vốn ngoài ngân sách. Tiếp đó, ưu tiên đất cho hoạt động có giá trị và hiệu ứng lan tỏa cao. Ở các vị trí gần sân bay, cảng, đường vành đai và đường sắt, chỉ tiêu đánh giá dự án cần gồm giá trị gia tăng trên hecta, việc làm kỹ năng cao, mức liên kết với doanh nghiệp trong vùng, tiêu hao năng lượng và khả năng tái sử dụng nước.
“Điều phối vùng nên đi theo danh mục dự án và hành lang thay vì trao đổi chung. Với dự án liên địa phương, cần xác định rõ bên đầu tư, bên hưởng lợi, cơ chế đồng tài trợ và bộ chỉ tiêu đánh giá chung. Hội đồng điều phối vùng có thể tập trung vào những dự án có tác động vượt địa giới, dữ liệu dùng chung và xử lý xung đột lợi ích”, Tiến sĩ Hoàng Văn Tú nhấn mạnh.
Cuối cùng, theo Tiến sĩ Hoàng Văn Tú, cần công bố định kỳ một bộ chỉ tiêu vùng gồm thời gian tiếp cận giữa các cực, chi phí logistics, năng suất đất công nghiệp, FDI chất lượng, tỷ lệ lao động kỹ năng, nhà ở cho người lao động, phát thải và mức sử dụng giao thông công cộng. Khi có dữ liệu chung, quyết định phân bổ dự án sẽ bớt phụ thuộc vào mục tiêu riêng của từng địa phương.

Quốc lộ 22 qua địa bàn phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được dự kiến mở rộng lên 8 làn xe. Ảnh: Minh Phú - TTXVN
Nhấn mạnh đến 2 điểm nghẽ chính của các địa phương Đông Nam Bộ hiện nay về các rào cản hạ tầng kết nối và sự mất cân đối nguồn lao động, Tiến sĩ Nguyễn Phúc Khánh Linh, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, cho rằng: Chính quyền các cấp cần tập trung hoàn thiện các tuyến giao thông vành đai (như Vành đai 3, Vành đai 4, Vành đai 4,5 và Vành đai 5) cùng hệ thống đường sắt kết nối trực tiếp các trung tâm sản xuất công nghiệp (Đồng Nai, Tây Ninh) tới cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp nên đẩy nhanh lộ trình phát triển mạng lưới đường sắt đô thị dài hạn và các tuyến xe buýt nhanh kết nối liên tỉnh. Việc tích hợp mô hình phát triển đô thị lấy giao thông công cộng làm trung tâm (TOD) tại các điểm nút giao thông liên vùng không chỉ giúp gia tăng năng lực vận tải hành khách khối lượng lớn mà còn thay đổi thói quen sử dụng phương tiện cá nhân của lực lượng lao động, qua đó giảm áp lực ùn tắc và ô nhiễm môi trường.
Đối với bài toán lệch pha trong vấn đề nguồn lao động, theo Tiến sĩ Nguyễn Phúc Khánh Linh, các địa phương mới sáp nhập cần thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo. Hệ thống các trường đại học lớn tại TP. Hồ Chí Minh cần mở rộng chi nhánh hoặc liên kết đào tạo tại chỗ với các khu công nghiệp ngoại vi, tập trung trang bị kỹ năng và cập nhật công nghệ cho lực lượng lao động địa phương nhằm đáp ứng kịp thời xu hướng sản xuất hiện đại. Để giữ chân đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và nhà khoa học tại các địa bàn mới sáp nhập, không chỉ dừng lại ở chính sách ưu đãi tài chính. Việc đầu tư đồng bộ hạ tầng xã hội - bao gồm các dự án nhà ở xã hội, bệnh viện và hệ thống trường học đạt chuẩn - sẽ tạo động lực an cư lâu dài, từ đó thu hẹp khoảng cách về chất lượng sống giữa vùng lõi và vùng ngoại vi.
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học đã phân tích thực trạng và xu hướng tái cấu trúc cơ cấu kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ, trong đó chú trọng sự thay đổi về không gian phát triển, các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và sự phân bố lại các nguồn lực. Đồng thời, nhận diện những cơ hội, thách thức và điểm nghẽn trong quá trình phát triển vùng, đặc biệt là các vấn đề về hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường lao động, đô thị hóa, phân bố dân cư, tiếp cận dịch vụ xã hội và bảo đảm phát triển bao trùm.
Cùng với đó, hội thảo cũng nêu ra những tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển của TP. Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh sau hợp nhất; đồng thời xem xét khả năng hình thành các chuỗi giá trị, các không gian kinh tế mới và tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng. Qua đó, đề xuất các định hướng, giải pháp và gợi mở chính sách nhằm hoàn thiện thể chế quản trị, nâng cao hiệu quả điều phối, phát huy lợi thế của từng địa bàn, thúc đẩy liên kết vùng và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn 2026–2030 và những năm tiếp theo.
