Tái cấu trúc phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia: Xây nền cho năng lực làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng đề án chuyển từ đầu tư các phòng thí nghiệm đơn lẻ sang phát triển hạ tầng nghiên cứu quốc gia đồng bộ, hiện đại, phục vụ mục tiêu nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi.

Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.

Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.

Từ những “điểm nghẽn” của hệ thống hiện hữu

Trong buổi làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một thực tế: Việt Nam vẫn thiếu các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, thiếu cơ sở dữ liệu lớn, hạ tầng tính toán dùng chung và cơ chế đầu tư dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhiều thiết bị, phòng thí nghiệm được đầu tư phân tán, thiếu kết nối và hiệu quả khai thác chưa cao.

Những đánh giá này cũng phản ánh thực trạng của hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia sau hơn 20 năm hình thành và phát triển.

Từ năm 2000, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong các lĩnh vực: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, tự động hóa, cơ khí, hóa học, môi trường, đo lường và năng lượng... Theo số liệu được các đơn vị nghiên cứu công bố, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc nhóm các đại học và viện nghiên cứu lớn đang tập trung khoảng 72% nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, làm chủ khoảng 60% công nghệ lõi và đóng góp khoảng 50% công bố quốc tế của cả nước.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống này vẫn chưa thực sự trở thành hạ tầng nghiên cứu chiến lược quốc gia. Một trong những bất cập lớn nhất là cách thức đầu tư.

Phần lớn các phòng thí nghiệm được xây dựng dựa trên năng lực sẵn có của các đơn vị chủ trì hoặc theo các lĩnh vực ưu tiên của từng giai đoạn. Vì vậy, cơ cấu đầu tư tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực nghiên cứu truyền thống như: Vật liệu, hóa học, cơ khí, tự động hóa hay công nghệ sinh học. Trong khi đó, nhiều lĩnh vực đang giữ vai trò quyết định trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu như bán dẫn, điện toán hiệu năng cao, robot thông minh hay công nghệ lượng tử lại chưa được đầu tư tương xứng.

Nguồn lực đầu tư cũng còn phân tán. Với tổng kinh phí 967 tỷ đồng cho 16 phòng thí nghiệm, mức đầu tư bình quân chưa đến 60 tỷ đồng mỗi phòng, thấp hơn đáng kể so với chuẩn quốc tế.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bên cạnh đó, nhiều thiết bị được mua sắm trong giai đoạn 2000-2010 hiện đã lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ công nghệ; trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ ở nhiều lĩnh vực chỉ kéo dài từ 3 đến 7 năm.

Không chỉ thiết bị, cơ chế vận hành cũng đang trở thành điểm nghẽn. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong nhiều năm qua nguồn lực nhà nước chủ yếu tập trung cho mua sắm thiết bị, trong khi kinh phí hoạt động rất hạn chế, bình quân chỉ khoảng 1,137 tỷ đồng mỗi phòng thí nghiệm mỗi năm. Mức kinh phí này chỉ đủ cho các khoản chi tối thiểu như điện, nước và vật tư tiêu hao, không đủ để duy trì đội ngũ nhân lực chất lượng cao hoặc triển khai các chương trình nghiên cứu dài hạn.

Nguồn nhân lực cũng là bài toán lớn. Đa số cán bộ nghiên cứu làm việc theo hình thức kiêm nhiệm, thiếu đội ngũ nghiên cứu chuyên trách và kỹ thuật viên vận hành thiết bị. Không ít nơi có thiết bị hiện đại nhưng không đủ nhân lực để khai thác tối đa công suất.

Ngoài ra, các rào cản liên quan đến cơ chế tài chính, mua sắm, sử dụng tài sản công, hợp tác với doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm.

Thực tiễn đó cho thấy yêu cầu tái cấu trúc toàn diện hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trở thành đòi hỏi cấp thiết nếu Việt Nam muốn xây dựng năng lực công nghệ nội sinh và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Kiến tạo hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Trước những yêu cầu mới của quá trình phát triển đất nước, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Đề án phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tập trung cho công nghệ chiến lược.

Điểm khác biệt lớn nhất của đề án là thay đổi tư duy từ “đầu tư phòng thí nghiệm” sang “xây dựng hạ tầng nghiên cứu quốc gia”.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định chủ trì hội thảo “Báo cáo và trao đổi, đề xuất mô hình tổ chức, quản lý, vận hành các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia" tháng 6-2026.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định chủ trì hội thảo “Báo cáo và trao đổi, đề xuất mô hình tổ chức, quản lý, vận hành các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia" tháng 6-2026.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm là hạ tầng cốt lõi đối với năng lực nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia, đồng thời có vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thay vì tiếp tục đầu tư các phòng thí nghiệm đơn lẻ, đề án hướng tới xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ gồm trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nền tảng dữ liệu, hạ tầng tính toán, hệ thống thiết bị dùng chung và mạng lưới chuyên gia.

Trong mô hình mới, hệ thống được tổ chức theo ba tầng.

Tầng cao nhất là các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia chiến lược, thực hiện các chương trình nghiên cứu quy mô lớn, phát triển công nghệ lõi, triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược của quốc gia.

Tầng thứ hai là hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm theo từng lĩnh vực, đặt tại các trường đại học nghiên cứu mạnh, viện nghiên cứu quốc gia hoặc doanh nghiệp công nghệ lớn.

Lộ trình xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm tại Việt Nam.

Lộ trình xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm tại Việt Nam.

Tầng thứ ba là mạng lưới phòng thí nghiệm vùng và ngành, phục vụ giải quyết các bài toán phát triển của địa phương, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ.

Theo đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam sẽ hình thành khoảng 10-15 trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm quốc gia quy mô lớn. Nguồn lực đầu tư giai đoạn đầu sẽ tập trung chủ yếu cho các lĩnh vực ưu tiên gồm: Trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới và năng lượng tái tạo.

Khoảng 60-70% nguồn lực đầu tư sẽ dành cho các lĩnh vực này. Các công nghệ như: Robot và tự động hóa, điện toán hiệu năng cao, công nghệ lượng tử, công nghệ biển và công nghệ hàng không - không gian sẽ được triển khai theo lộ trình tiếp theo.

Song song với đầu tư hạ tầng vật chất, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học quốc gia và các nền tảng chia sẻ dữ liệu phục vụ nghiên cứu.

Nghiên cứu bên trpng phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc, hóa dầu.

Nghiên cứu bên trpng phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ lọc, hóa dầu.

Một nội dung quan trọng khác là đổi mới mô hình quản trị. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất mô hình: Nhà nước đầu tư - tổ chức xuất sắc vận hành - doanh nghiệp đồng hành - địa phương cùng tham gia phát triển.

Cơ chế đầu tư cũng thay đổi theo hướng chuyển từ các dự án mua sắm một lần sang chương trình phát triển dài hạn. Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất tiếp cận theo vòng đời công nghệ, bao gồm đầu tư ban đầu, vận hành, bảo trì, nâng cấp và phát triển nhân lực.

Đặc biệt, Bộ đang nghiên cứu các cơ chế đột phá về tài chính và nhân sự. Theo định hướng được trình Thủ tướng Chính phủ, Nhà nước dự kiến bảo đảm 100% kinh phí chi thường xuyên trong 5 năm đầu vận hành đối với các đơn vị trọng điểm; đồng thời cấp kinh phí nghiên cứu hằng năm tương đương khoảng 30% giá trị đầu tư của phòng thí nghiệm.

Các phòng thí nghiệm cũng được định hướng vận hành theo cơ chế mở, cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương cùng khai thác hạ tầng nghiên cứu.

Có thể thấy, điểm cốt lõi trong cách tiếp cận mới của Bộ Khoa học và Công nghệ không đơn thuần là đầu tư thêm thiết bị hay xây dựng thêm phòng thí nghiệm. Mục tiêu lớn hơn là hình thành một hạ tầng nghiên cứu quốc gia hiện đại, có khả năng kết nối nguồn lực, thu hút nhân tài, thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp; từ đó tạo ra năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Thu Hằng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tai-cau-truc-phong-thi-nghiem-trong-diem-quoc-gia-xay-nen-cho-nang-luc-lam-chu-cong-nghe-chien-luoc-1160493.html