Tái thiết hạ tầng đô thị miền núi: Ưu tiên 'thoát nước chậm', tăng khả năng chống chịu
Biến đổi khí hậu cực đoan đang phơi bày điểm yếu hạ tầng đô thị miền núi. Tại Cao Bằng, ngập úng, sạt lở trở thành rủi ro hệ thống, đòi hỏi đổi mới cách tiếp cận quy hoạch và đầu tư.
Hạ tầng quá tải trước cực đoan khí hậu và hạn chế địa hình
Theo PGS. TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng), Cao Bằng có địa hình bị chia cắt phức tạp bởi hệ thống sông suối dày, núi đồi và thung lũng sâu, nên phần lớn diện tích đất của tỉnh có độ dốc lớn.

PGS. TS Nguyễn Hồng Tiến khẳng định: “Cách tiếp cận của thoát nước mưa theo hướng bền vững là thoát chậm, không phải thoát nhanh, để tránh lượng mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn…”. Ảnh minh họa.
Đặc biệt, ở những khu vực nhiều núi đá vôi không thuận lợi cho việc phát triển các ngành dân sinh, kinh tế của tỉnh Cao Bằng, dễ gây ra hiện tượng sạt lở đất đá, lũ quét, ngập úng và xói mòn trong mùa mưa.
Hệ quả của cấu trúc địa hình dốc kết hợp với lượng mưa cường suất cao được thể hiện rõ qua động lực học dòng chảy: Lũ quét là một loại hình lũ miền núi nói chung thường có cường suất, vận tốc dòng chảy và biên độ mực nước rất lớn, lũ lên nhanh và xuống nhanh, dòng nước có lượng lớn bùn rác.
Tuy nhiên, thực trạng đánh giá năng lực cơ sở hạ tầng hiện nay cho thấy: Hệ thống cấp thoát nước tại các đô thị và điểm dân cư tập trung xây dựng không đồng bộ, xuống cấp đặc biệt chưa được thiết kế đầy đủ để thích ứng với các trận mưa lớn bất thường, dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ hoặc xảy ra trên diện rộng.
Thực tế này cho thấy mô hình hạ tầng xám truyền thống, vốn dựa vào tiêu thoát nhanh, đang bộc lộ nhiều giới hạn khi không theo kịp diễn biến mưa cực đoan.
PGS. TS Vũ Thị Vinh, nguyên Tổng thư ký Hiệp hội Các đô thị Việt Nam, chỉ ra rằng, cách tiếp cận dựa chủ yếu vào tiêu thoát nhanh đang dần mất hiệu quả khi đối mặt với mưa cực đoan, kéo theo chi phí duy tu lớn nhưng hiệu quả giảm.
Ngập úng trong đô thị miền núi không chỉ là hệ quả của lượng mưa, mà là kết quả tổng hợp của địa hình dốc, phân bố dân cư ven sông và những hạn chế của hệ thống thoát nước hiện hữu.
Quá trình đô thị hóa dọc các trục sông, giao thông chính còn làm thu hẹp không gian thoát lũ, khiến rủi ro gia tăng.
Tiếp cận thoát nước bền vững
Từ những hạn chế nêu trên, yêu cầu chuyển sang mô hình hạ tầng xanh và hạ tầng xám (là mô hình kết hợp giữa giải pháp công trình truyền thống và giải pháp dựa vào tự nhiên, nhằm giữ, làm chậm và kiểm soát dòng chảy trong đô thị) được đặt ra.
Đây là cách tiếp cận kết hợp giữa công trình kỹ thuật truyền thống và giải pháp dựa vào tự nhiên, tổ chức theo lưu vực và cao độ địa hình.
Theo đó, nước mưa không thoát nhanh ngay mà được giữ ở vùng cao, làm chậm ở khu vực trung gian và kiểm soát tại vùng thấp được xem là định hướng phù hợp với điều kiện miền núi.
Đồng quan điểm, PGS. TS Nguyễn Hồng Tiến nhấn mạnh, tiếp cận thoát nước bền vững không còn là "thoát nhanh" mà phải là "thoát chậm", đồng thời cần thiết lập các không gian chứa lũ dựa trên hệ sinh thái đất ngập nước để nâng cao khả năng chống chịu của đô thị.
Bên cạnh hệ thống thoát nước, hạ tầng giao thông cũng bộc lộ rõ tính dễ tổn thương. Theo TS Đỗ Văn Thuận, Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng) mạng lưới hiện nay phụ thuộc lớn vào một số trục chính, trong khi các tuyến thay thế còn hạn chế.
Khi xảy ra sạt lở hoặc ngập úng tại các vị trí trọng yếu, khả năng kết nối của toàn hệ thống bị gián đoạn.
Điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận quy hoạch, chuyển sang nguyên tắc "quy hoạch dựa trên rủi ro", trong đó các bản đồ nguy cơ sạt lở, ngập úng phải được tích hợp trực tiếp vào quá trình lựa chọn hướng tuyến và xác định cao độ thiết kế.
Đồng thời, tiêu chuẩn thiết kế cần dựa trên các kịch bản khí hậu dài hạn, thay vì chỉ dựa vào số liệu lịch sử.
Từ các phân tích trên có thể thấy, vấn đề không dừng ở giải pháp kỹ thuật đơn lẻ mà liên quan đến cách thức quản lý và đầu tư hạ tầng.
TS Đỗ Văn Thuận cho rằng cần chuyển từ tư duy quản lý theo dự án sang quản lý theo vòng đời công trình, tính toán đầy đủ chi phí vận hành, bảo trì và rủi ro.
Cùng với đó, PGS. TS Vũ Thị Vinh nhấn mạnh, sự cần thiết phải đưa mô hình hạ tầng xanh và hạ tầng xám trở thành yêu cầu bắt buộc trong quy hoạch và quản lý đô thị, thay vì chỉ mang tính khuyến khích.
Từ thực tiễn Cao Bằng, có thể thấy tái thiết hạ tầng kỹ thuật đô thị miền núi không chỉ là nâng cấp công trình, mà là quá trình điều chỉnh lại toàn bộ cách tiếp cận - từ nhận diện rủi ro, tổ chức không gian, lựa chọn giải pháp kỹ thuật đến hoàn thiện thể chế.
Trong bối cảnh cực đoan khí hậu ngày càng gia tăng, đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực chống chịu và phát triển bền vững.
Hội thảo "Đô thị miền núi thích ứng với biến đổi khí hậu cực đoan"
Hội thảo do UBND tỉnh Cao Bằng chủ trì, phối hợp với Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng) tổ chức, dự kiến trong tháng 4/2026, tại Cao Bằng.
Hội thảo sẽ tập trung làm rõ rủi ro khí hậu tại đô thị miền núi, đề xuất giải pháp quy hoạch, hạ tầng theo hướng "sống cùng nước" và ứng dụng các công cụ mô phỏng hiện đại.
Đồng thời hướng tới xây dựng bộ khuyến nghị kỹ thuật, danh mục dự án ưu tiên giai đoạn 2026 - 2030 và khung đào tạo nâng cao năng lực cán bộ.











