Tầm nhìn chiến lược và dân tộc hành động

Trước thềm Bính Ngọ 2026, sau 40 năm đổi mới, dân tộc tất yếu đi tới Canh Ngọ 2050, với khát vọng Việt Nam phú cường, như một nhu cầu phát triển. Nhưng, điều quan trọng quyết định thành công là hiện thực hóa khát vọng ấy với tầm viễn kiến độc lập, sáng tạo và thực thi bằng hệ động lực tổng thể và phù hợp của sức mạnh dân tộc tương dung với sức mạnh thời đại. Đó là thước đo sức mạnh, uy tín và danh dự Việt Nam 25 năm tới trước thế giới.

“Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ”

Thay vì dự báo tương lai, chúng ta kiến tạo tương lai! Nhưng, sự tiên tri tốt nhất của tương lai lại chính là dự báo tương lai và nghiền ngẫm quá khứ.

Vì thế, để định vị tương lai đất nước, tất cả đang đòi hỏi về tầm nhìn xa rộng, về khả năng kiến tạo và phát triển hệ giá trị quốc gia, về hoạch định định chế và thực thi quyết sách chính trị nhằm tạo ra sự bứt phá với gia tốc mới một cách khác thường, tạo nên thành tựu phi thường, với khát vọng phú cường trong những thập kỷ tới như dân tộc đã làm nên những kỳ tích giữ nước và dựng nước ở những thế kỷ thứ X, XIII, XV và XX vừa qua.

 Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI. Ảnh: Như Ý

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI. Ảnh: Như Ý

Tương lai không phải là đường kéo dài của quá khứ. Do đó, nhất định không thể kiến tạo tương lai bởi quá khứ. Việt Nam không thể bước vào thế kỷ XXI bằng mô hình thế kỷ XX, mà phải kiến tạo một tầm nhìn mới, hệ giá trị mới và hệ động lực mới từ yêu cầu phát triển những năm 30, 40 của thế kỷ XXI.

Đó là một sự chuyển hóa căn cơ về tư duy, mô thức phát triển và cấu trúc xã hội nhằm xây dựng một Việt Nam phú cường trong một thế giới khác trước.

Từ địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa và từ 80 năm Nhà nước cách mạng Việt Nam, đặc biệt thực tiễn, sức mạnh của 40 năm đổi mới, trong bối cảnh thế giới hiện nay, có thể dự báo và phác thảo tầm viễn kiến định hướng kiến tạo tương lai Việt Nam:

Tầm nhìn dân tộc: Việt Nam phải trở thành một dân tộc văn hiến, trí tuệ, tự chủ và sánh vai các cường quốc - một sứ mệnh được xác lập ngay trong tinh thần Đại hội VI (1986) và ngày càng cụ thể hóa về tầm nhìn, quyết sách và cương lĩnh hành động trên mỗi chặng đường trong thời kỳ đổi mới, với tâm thế tự vượt lên chính mình trong thế kỷ XXI.

Tầm nhìn quốc gia: Việt Nam không thể là “quốc gia tiệm tiến”, mà phải là quốc gia kiến tạo, dấn thân, đột phá, phát triển mạnh mẽ, bền vững, nhân văn, nhịp bước cùng thời đại. Việt Nam phải là một trung tâm trí tuệ - văn hóa - kinh tế xanh - xã hội nhân văn ở khu vực Đông Nam Á, là điểm tựa hòa bình - phát triển - hội nhập bền vững của thế giới.

Tầm nhìn quốc tế: Có thể hình dung một cách hình ảnh, đó là hệ thống tư tưởng - lý luận - hành động như một “bản đồ chiến lược” đưa Việt Nam tới năm 2045, hình thành một học thuyết phát triển mang dấu ấn Việt Nam, một hệ giá trị quốc gia hài hòa giữa tính dân tộc - khoa học - hiện đại - nhân văn và có khả năng tham gia định hướng, phát triển thời đại.

Nói khái quát, đó là Việt Nam Dân tộc hóa - Hiện đại hóa - Toàn cầu hóa.

Thực tiễn xác tín, ý tưởng định hình dòng chảy lịch sử. Nhưng, ý tưởng thực ra là lực lượng. Sự vô hạn cũng là sức mạnh của tính cách dân tộc Việt Nam. Sự kết hợp của hai thứ đó, kỳ vọng đất nước sẽ tạo ra lịch sử của kỷ nguyên mới.

Khát vọng định vị chiến lược quốc gia; Phát triển một dân tộc kiêu hãnh: Chúng ta phải định vị chiến lược đất nước từ yêu cầu phát triển của tương lai, không thể đơn giản chỉ từ vị thế của quá khứ dân tộc. Đây là một thách thức kép: một mặt đang đến từ tương lai và mặt khác thách thức là nguy cơ của quá khứ. Chỉ có nhìn như vậy, mới có thể chủ động và kiên định đi tới tương lai.

Dân tộc Việt Nam phải kiến thiết một quốc gia phú cường, không chỉ giàu có về vật chất mà còn hùng mạnh về trí tuệ, bản lĩnh và văn hóa; phát triển toàn diện, có chiều sâu, mang bản sắc riêng, không lệ thuộc. Đó là một quốc gia phát triển: hiện đại – dân chủ – nhân văn – tự cường – bản sắc; đồng thời, là trung tâm kết nối trí tuệ – văn hóa – kinh tế – chính trị trong khu vực Đông Nam Á và có ảnh hưởng tích cực trong thế giới của dân tộc Việt Nam.

Kiến tạo hình mẫu quốc gia phú cường: Dự báo nhịp sóng thứ tư sẽ khoảng 30 năm từ 2021 – 2050. Có thể hình dung, nếu giai đoạn đổi mới đầu tiên từ 1986 - 2021 là sự thức dậy về tư duy, đổi mới về cơ chế, chủ động trong hội nhập toàn cầu, thì giai đoạn 30 năm đổi mới tiếp theo tới năm 2050 sẽ được định hình bởi những cố gắng phi thường của cả dân tộc đột phá về đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phú cường, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Mục tiêu chiến lược dân giàu: thu nhập cao, phân phối công bằng, cơ hội rộng mở; nước mạnh: tự chủ chiến lược về chính trị, an ninh, quốc phòng, công nghệ, văn hóa và môi trường sinh thái; xã hội dân chủ – công bằng – văn minh: Nơi con người là trung tâm, nhân phẩm và sáng tạo được tôn vinh. Và, Đảng vững mạnh: về trí tuệ, đạo đức, về bản lĩnh và năng lực lãnh đạo, cầm quyền.

“Tấn công, thoái thủ nên thần tốc”

Trên nền tảng hiện thực, trước yêu cầu phát triển mới, không thể không chuyển mạnh từ xã hội tồn tại sang xã hội phát triển theo cơ cấu và hệ giá trị, xây dựng nền kinh tế dựa trên trí tuệ sáng tạo, giá trị gia tăng cao và phát triển văn hóa đặc sắc. Nghiền ngẫm toàn diện và đoạn tuyệt với mô hình tồn tại quyết tâm chuyển sang kiến tạo mô hình cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước tương dung với thời đại đang biến động và đổi rất khác.

Trước mắt, đoạn tuyệt từng bước sự cạnh tranh bằng lao động rẻ hay tài nguyên thô; xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa cục bộ và tổng thể, giữa kinh tế và văn hóa, giữa đạo đức và thị trường… theo chuẩn mực quốc tế, chuỗi giá trị toàn cầu và phù hợp với thực lực đất nước. Tình trạng sa mạc hóa lan rộng, mực nước biển dâng đe dọa sự sinh tồn của các vùng đồng bằng quan trọng – những vựa lúa của cả nước và thế giới. Do đó, phát triển xanh và thích ứng thông minh, hơn bao giờ hết, phải là yêu cầu sống còn. Phải nắm lấy kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn trong kỷ nguyên lượng tử.

Lịch sử luôn bảo chứng, một thể chế tồi sẽ khiến cho người dù tốt rất dễ làm điều xấu xa; ngược lại, một thể chế tốt sẽ buộc người xấu xa sẽ làm điều tốt. Và, bài học từ các quốc gia phát triển cũng bảo chứng: Sự thành bại, một phần căn bản được quyết định bởi thể chế - thể chế - và thể chế!

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và trước yêu cầu phát triển mới, Việt Nam không thể phát triển bằng con đường đi tắt, hay ngắn hạn, nếu không cải cách thể chế một cách căn cơ, hiện đại, phù hợp và sâu rộng. Theo đó, phải đổi mới thể chế đồng bộ: Pháp quyền, dân chủ hóa, quản trị hiện đại. Trên nền pháp quyền và đạo lý, không thể không xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển - xã hội học tập - cá nhân cầu thị bằng hệ thể chế phù hợp và đồng bộ với phương châm Nhà nước kiến tạo - xã hội hợp tác - công dân chủ động - với bộ máy tinh hoa, gọn nhẹ, liên thông, chuyên nghiệp và hiện đại. Nghĩa là, cần chuyển đổi mô hình Nhà nước quản lý tất cả - Nhân dân thụ động sang mô hình Nhà nước kiến tạo: Tạo khuôn khổ pháp lý vận hành xã hội một cách toàn diện, dân chủ, với hệ điều kiện cần và đủ tối ưu và phù hợp, khơi thông mọi ách tắc và thức dậy mọi động lực kinh tế, văn hóa và xã hội.

Dân tộc cần xây dựng xã hội hài hòa và hợp tác: Các chủ thể kinh tế, xã hội phối hợp đồng bộ, thống nhất trong sáng tạo giá trị. Mỗi người cần vươn tới xứng đáng công dân chủ động, tự chủ và tự tôn: Tự chủ chiến lược là nguyên tắc để bảo vệ chủ quyền trong mọi lĩnh vực, để dân tộc tự quyết, tự lập, sáng tạo và hội nhập. Càng tự chủ cao độ càng hội nhập vững vàng! Mặt khác, đầu tư ngang tầm chiến lược phát triển giáo dục, khoa học - công nghệ và văn hóa. Giáo dục - đào tạo hiện đại là nền móng chiến lược căn bản phát triển con người, với phương châm dạy làm người song hành với dạy để hành động một cách thực học, thực tài, thực nghiệp.

Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Trong toàn cầu hóa, nhất là các cuộc “xâm lăng văn hóa” đã và đang nguy cơ nhấn chìm không ít quốc gia dân tộc không gìn giữ bản sắc phát triển. Bản sắc không chỉ là truyền thống mà còn là trí tuệ, tinh thần cải cách, sáng tạo và bản lĩnh chính trị; trong đó, văn hóa là nền tảng tư tưởng và động lực của phát triển và sự độc lập tư duy là điều kiện để tránh lệ thuộc, bám sát chân lý, đứng vững và phát triển trên mảnh đất quốc gia dân tộc trong trào lưu phát triển của nhân loại.

Đoàn kết vì lợi ích quốc gia dân tộc, trên nền tảng công bằng xã hội: Lợi ích là trung tâm của tất cả các mối quan hệ chính trị, kinh tế, cá nhân, xã hội và quốc tế. Phân bổ minh bạch và hợp lý các nguồn lực phát triển để không ai bị bỏ lại phía sau và bình đẳng mọi cơ hội phát triển, xã hội công bằng và tiến bộ; bảo đảm thống nhất lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia dân tộc… Phải làm cho khát vọng Việt Nam phú cường trở thành niềm tin và hành động chung của mỗi người. Tôn trọng sự đa dạng tư tưởng và cổ vũ sáng tạo cá nhân: Đoàn kết trong khác biệt, không đồng hóa tư duy, khuyến khích tư duy phản biện và đổi mới sáng tạo.

Không thể không kiên định con đường phát triển độc lập, tự chủ chiến lược, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc: Tự quyết về chính trị, độc lập về kinh tế, bản sắc về văn hóa, ổn định về xã hội, vững chắc về an ninh quốc phòng. Giữ vững chủ kiến hội nhập theo hệ giá trị toàn cầu một cách đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ; cân bằng các mối quan hệ chiến lược quốc tế, với tinh thần không gây thù oán với một ai; xử lý nhuần nhuyễn giữa độc lập và hội nhập, giữa tự quyết và hài hòa, không rơi vào bất kỳ liên minh đối đầu nào gây phương hại đất nước; phòng, tránh và hóa giải mọi hình thái nô dịch về chính trị hay cạm bẫy phản phát triển về kinh tế, bảo vệ vô điều kiện quyền tự quyết, tự chủ chiến lược, ý chí tự cường, tinh thần tự tôn, khát vọng phú cường dân tộc.

Nói khái lược, phát triển và thực thi triết lý phát triển phù hợp với thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số hiện nay đã hoàn toàn khác trước: Chính trị độc lập và tự chủ chiến lược; kinh tế trí tuệ và bền vững; thể chế phù hợp và giải phóng; giáo dục khai phóng và thực nghiệp; xã hội học tập liên tục… trên nền móng pháp luật song hành với đạo lý dân tộc, với lộ trình, nhịp độ và bước đi phù hợp.

“Tấn công, phòng thủ không sơ hở”

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, các cuộc cải cách thường thất bại do chưa phát hiện đúng và sử dụng đúng các động lực phát triển; đồng thời, khắc chế hiệu quả các phương diện phản phát triển và triệt tiêu các phản động lực.

Do đó, để phát triển kỷ nguyên phú cường, tiếp tục xây dựng và phát triển hệ động lực hành động sáng tạo và dũng cảm. Trong hệ động lực phát triển, nổi bật sáu loại chủ yếu:

Về động lực căn bản: Con người Việt Nam là trung tâm, Nhân dân là chủ thể và là động lực của phát triển, rường cột là đội ngũ tinh hoa: chính trị gia – kỹ trị gia – chiến lược gia – khoa học gia – doanh gia trong nguồn nhân lực chất lượng cao. Con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, văn hóa, sự tiến bộ xã hội. Phát triển con người không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng - trí tuệ, đạo đức, năng lực sáng tạo.

 Kết tinh từ đời sống làng xã và tư duy thẩm mỹ bản địa, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ - di sản vừa được UNESCO ghi danh - cho thấy sức mạnh nội sinh bền bỉ của văn hóa Việt trong gìn giữ bản sắc và lan tỏa giá trị ra thế giới. Ảnh: NVCC

Kết tinh từ đời sống làng xã và tư duy thẩm mỹ bản địa, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ - di sản vừa được UNESCO ghi danh - cho thấy sức mạnh nội sinh bền bỉ của văn hóa Việt trong gìn giữ bản sắc và lan tỏa giá trị ra thế giới. Ảnh: NVCC

Về động lực phát triển cốt lõi: Tư tưởng và văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng. Không có một nền văn hóa mạnh mẽ và bản sắc thì không thể có một dân tộc Việt Nam mạnh mẽ và quật cường, càng không thể nói tới bản lĩnh và phương hướng phát triển nhân văn quốc gia.

Lấy giáo dục và khoa học, công nghệ và đổi mới làm chìa khóa phát triển nhanh, mạnh, bền vững và nhân văn. Không có nền giáo dục hiện đại thì không có nền khoa học, công nghệ mở đường phát triển quốc gia, càng không có chiến lược thực nghiệp và sáng tạo. Giáo dục và khoa học đi tiên phong làm tiền đề thúc đẩy phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến lượt nó, công nghệ và đổi mới là mục tiêu của động lực cốt lõi trên nền móng giáo dục và khoa học tiên tiến mang tầm chiến lược và là một trong những “cánh cửa” hội nhập chủ động, toàn diện và hiệu quả thế giới.

Về động lực then chốt: Đổi mới hệ thống chính trị và thể chế: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự “của dân, do dân, vì dân”; Đảng cầm quyền phải liên tục đổi mới, giữ vững bản chất cách mạng, đạo đức, trong sạch. Đặc biệt, phòng, chống mọi sự tha hóa quyền lực, tham nhũng quyền lực, thoái hóa quyền lực - “giặc nội xâm” - làm xói mòn, thậm chí băng hoại niềm tin của Nhân dân và đối tác quốc tế và cản trở phát triển.

Mất văn hóa tất mất nước, dân tộc tất nô lệ

Hơn bao giờ hết, văn hóa là “căn cước dân tộc”, là chất keo gắn kết đại đoàn kết toàn dân tộc và ngày càng phải là gương mặt, tư chất và bản sắc Việt Nam dân tộc, hiện đại. Văn hóa phải trở thành nền tảng và chất keo gắn bó cộng đồng dân tộc; là nội lực bền vững bên trong làm cho quốc dân thấm đẫm tinh thần tự lập, tự cường, nhân ái và bao dung, rường mối của tất cả các mối quan hệ ngoại giao và phát triển quốc gia, với phương châm bản sắc dân tộc, con người hiện đại hóa, xã hội công bằng, phát triển bền vững và nhân văn.

Về động lực trực tiếp: Khoa học - công nghệ và giáo dục. Đây là động lực trực tiếp của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục phải đổi mới thực chất, dạy làm người và thoát khỏi “văn hóa từ chương”, “văn hóa bắt chước” hướng đến tự do tư duy, năng lực đổi mới và sáng tạo trên nền “văn hóa từ hành”, “văn hóa nhân bản” bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ, nhân văn. Và, chính khoa học - công nghệ là động lực thúc đẩy đổi mới, phát triển hướng tới một nền giáo dục hiện đại phù hợp và mang tính toàn cầu.

Về động lực quan trọng: Kinh tế nhà nước dẫn dắt, kinh tế tư nhân và kinh tế đối ngoại là những động lực quan trọng phát triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường xây dựng và phát triển nội lực nền kinh tế đất nước - nhân tố quyết định phát triển bền vững; xây dựng và phát triển thương hiệu kinh tế quốc gia, nhất là các doanh nghiệp tiên phong hội nhập quốc tế, sức cạnh tranh, khẳng định vị thế và sức mạnh hội nhập toàn cầu với tốc độ tăng trưởng cần thiết song hành với bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái tự nhiên thống nhất với môi trường xã hội, bảo đảm độ bền vững của sự phát triển kinh tế xã hội quốc gia.

Về động lực chủ yếu: Đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là một yêu cầu sống còn, và trong thời đại mới, đại đoàn kết toàn dân tộc phải đạt tới những chuẩn mực mới mẻ và phù hợp. Mở rộng không gian đoàn kết: Đoàn kết không chỉ trong Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, mà với tất cả giai tầng dân tộc, toàn xã hội trong nước, kiều bào ở nước ngoài và các quốc gia dân tộc toàn cầu. Lịch sử phát triển của dân tộc xác tín, bất cứ cuộc cải cách, cách mạng nào trong mấy nghìn năm qua, nếu không có sự tham gia của Nhân dân, tất bại vong.

Lòng dân đại đoàn kết làm nên vận nước hanh thông, quốc gia phú cường.

*

* *

Khởi thủy là hành động.

Dù với tầm nhìn xa rộng, nhận rõ hệ động lực phát triển phù hợp, nếu không hành động, thì khát vọng phú cường chỉ là khát vọng suông hay mơ ước hão huyền. Nhưng, hành động thiếu triết lý, sự thất vọng còn gấp cả trăm lần, vô hình đánh mất sức mạnh toàn dân tộc. Trên hành trình phát triển Việt Nam phú cường, con người là gốc, Nhân dân là chủ thể, văn hóa là nền, giáo dục và khoa học là động cơ, chính trị là yếu tố quyết định phương hướng và toàn dân tộc đại đoàn kết hành động một cách toàn diện, thống nhất và dũng cảm, dưới ngọn cờ của Đảng, vì danh dự quốc gia và của chính liêm sỉ mỗi người.

“Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”.

Xuân Bính Ngọ 2026, trong tầm nhìn Xuân Canh Ngọ 2050, với bản lĩnh Phù Đổng, 25 năm dân tộc nhất định cập bến thành công.

TS. Nhị Lê (Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản)

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/tam-nhin-chien-luoc-va-dan-toc-hanh-dong-post1815885.tpo