'Tấm vé thông hành' - đưa nông sản vươn xa

Bám sát tín hiệu thị trường, Sơn La đẩy mạnh xây dựng và quản lý mã số vùng trồng, góp phần nâng cao chất lượng, minh bạch nguồn gốc nông sản. Việc triển khai các quy định mới về cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, cùng với đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Vùng trồng mận hậu tại xã Phiêng Khoài.    

Vùng trồng mận hậu tại xã Phiêng Khoài.    

Phát triển vùng trồng gắn với thị trường

Sơn La có trên 80.600 ha cây ăn quả, sản lượng năm 2026 ước đạt 521.500 tấn. Đáp ứng yêu cầu thị trường, tỉnh chú trọng phát triển các vùng sản xuất tập trung, hướng dẫn nông dân áp dụng quy trình sản xuất an toàn, xây dựng mã số vùng trồng và tăng cường liên kết tiêu thụ sản phẩm. Đến nay, toàn tỉnh quản lý 169 mã số vùng trồng, trong đó có 152 mã phục vụ xuất khẩu, chủ yếu đối với các sản phẩm nhãn, xoài, chuối, mận và một số loại nông sản khác.

HTX Nông nghiệp an toàn Chiềng Hặc, xã Chiềng Hặc, có 64 thành viên, canh tác gần 160 ha xoài, trong đó có 2 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc. Việc xây dựng mã số vùng trồng đã tạo sự thống nhất trong quy trình chăm sóc, sản xuất giữa các thành viên. Ông Hà Văn Sơn, Giám đốc HTX, cho biết: Duy trì mã số vùng trồng đòi hỏi các hộ thành viên thực hiện nghiêm quy trình sản xuất, ghi chép đầy đủ nhật ký canh tác. HTX thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các hộ thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật, nhất là việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm chất lượng sản phẩm phục vụ xuất khẩu.

Mô hình trồng dâu tây trong nhà màng của HTX Du lịch nông nghiệp Bon Bon, phường Mộc Châu.

Mô hình trồng dâu tây trong nhà màng của HTX Du lịch nông nghiệp Bon Bon, phường Mộc Châu.

Tại xã Yên Châu, địa phương đang duy trì 4 mã số vùng trồng xoài và nhãn, với tổng diện tích 65 ha. Cùng với phối hợp hướng dẫn các hộ thực hiện quy trình canh tác an toàn, quản lý sinh vật gây hại và cập nhật thông tin vùng trồng, địa phương vận động nông dân tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, chú trọng duy trì chất lượng tại các vùng trồng đã được cấp mã số. Ông Nguyễn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch UBND xã, thông tin: Địa phương phối hợp với cơ quan chuyên môn thường xuyên hướng dẫn các hộ thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, kiểm tra điều kiện duy trì mã số vùng trồng, kịp thời khắc phục những tồn tại trong sản xuất. Đồng thời, tuyên truyền để người dân hiểu rõ trách nhiệm trong quản lý, sử dụng mã số, đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu thụ.

Tuy nhiên, công tác quản lý, duy trì mã số vùng trồng vẫn còn khó khăn. Một số vùng trồng, cơ sở đóng gói chưa có đơn hàng xuất khẩu thường xuyên nên việc ghi chép nhật ký sản xuất chưa đầy đủ; khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, cập nhật dữ liệu của một số chủ mã số còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc rà soát, chuyển đổi mã số theo quy định mới phải thực hiện trong thời gian ngắn, trong khi nguồn lực còn hạn chế. Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới cách thức cấp và quản lý mã số, vừa tạo thuận lợi cho các chủ thể sản xuất, vừa bảo đảm đầy đủ các điều kiện kỹ thuật.

Đơn giản hóa thủ tục, nâng cao hiệu quả quản lý

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 31/7/2026, quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, thành phần hồ sơ được cắt giảm 50%; thời gian giải quyết thủ tục đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu giảm từ 14 ngày xuống còn 3 ngày; trường hợp đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số được giải quyết trong 10 ngày làm việc theo quy định. Thẩm quyền giải quyết thủ tục được phân cấp cho UBND cấp xã, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đăng ký cấp mã số.

Cán bộ khuyến nông hướng dẫn nông dân xã Yên Châu chăm sóc xoài, bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật phục vụ xuất khẩu.

Cán bộ khuyến nông hướng dẫn nông dân xã Yên Châu chăm sóc xoài, bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật phục vụ xuất khẩu.

Quy định mới cũng chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tổ chức, cá nhân đăng ký mã số thực hiện kê khai trên môi trường mạng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin cung cấp. Cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra việc duy trì các điều kiện kỹ thuật sau khi cấp mã số. Đối với những thị trường nhập khẩu có yêu cầu kiểm tra, phê duyệt mã số, việc thực hiện vẫn phải tuân thủ quy định của nước nhập khẩu.

Triển khai Nghị quyết số 36, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã hướng dẫn các địa phương thực hiện quy định mới; tổ chức tập huấn cho cán bộ phụ trách tại 100% xã, phường về quản lý dữ liệu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ trực tuyến. Các địa phương bố trí cán bộ hỗ trợ người dân hoàn thiện hồ sơ, số hóa thông tin đăng ký; lực lượng khuyến nông hướng dẫn các hộ ghi chép nhật ký canh tác, thực hiện yêu cầu kỹ thuật trong quản lý vùng trồng.

Nông dân xã Chiềng Mung chăm sóc chanh leo theo tiêu chuẩn xuất khẩu.

Nông dân xã Chiềng Mung chăm sóc chanh leo theo tiêu chuẩn xuất khẩu.

Tại phường Mộc Châu, địa phương đã bố trí cán bộ tại Bộ phận Một cửa hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục đăng ký cấp mã số vùng trồng. Những trường hợp chưa thành thạo sử dụng điện thoại thông minh hoặc thực hiện thủ tục trực tuyến được hỗ trợ nhập thông tin, số hóa hồ sơ. Cán bộ khuyến nông phối hợp hướng dẫn các hộ thực hiện quy trình canh tác, ghi chép nhật ký, theo dõi tình hình sâu bệnh và duy trì các điều kiện kỹ thuật sau khi được cấp mã số.

Ông Đỗ Chí Dũng, Phó Chủ tịch UBND phường, cho biết: Việc phân cấp thẩm quyền cấp mã số vùng trồng giúp phường chủ động hơn trong giải quyết thủ tục cho người dân. Địa phương đang rà soát các vùng sản xuất có nhu cầu đăng ký cấp mã số, nắm tình hình để xác định những vùng có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Qua đó, từng bước mở rộng diện tích sản xuất có mã số, gắn với nhu cầu tiêu thụ nông sản.

Việc phân cấp thẩm quyền cấp mã số vùng trồng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản lý của chính quyền cơ sở. Không chỉ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, UBND cấp xã còn có trách nhiệm theo dõi việc duy trì các điều kiện sản xuất, cập nhật dữ liệu vùng trồng và phối hợp kiểm tra, giám sát. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ cán bộ phụ trách cần nắm vững quy trình chuyên môn, sử dụng thành thạo hệ thống quản lý trực tuyến và kịp thời xử lý những vướng mắc phát sinh.

Gắn mã QR code truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm tại HTX Kiên Cường, xã Phiêng Khoài.Ảnh: PV

Gắn mã QR code truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm tại HTX Kiên Cường, xã Phiêng Khoài.Ảnh: PV

Bà Lưu Thanh Nga, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết: Chi cục tiếp tục phối hợp với các địa phương rà soát, hướng dẫn chuyển đổi, chuẩn hóa mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo quy định; cập nhật thông tin vào hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, tăng cường kiểm tra việc duy trì các điều kiện kỹ thuật, kịp thời phát hiện, xử lý những trường hợp không tuân thủ quy định về quản lý, sử dụng mã số.

Đối với các vùng trồng phục vụ xuất khẩu, việc được cấp mã số trong nước không đồng nghĩa với việc sản phẩm đủ điều kiện xuất khẩu vào tất cả các thị trường. Những thị trường có yêu cầu phê duyệt mã số riêng vẫn phải thực hiện theo quy định của nước nhập khẩu. Vì vậy, đơn giản hóa thủ tục hành chính phải đi đôi với kiểm soát chất lượng sản phẩm, quản lý sinh vật gây hại và duy trì đầy đủ thông tin truy xuất nguồn gốc. Đây là điều kiện để các vùng trồng đã được cấp mã số đáp ứng yêu cầu, tiếp tục tham gia chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu.

Mã số vùng trồng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi các điều kiện sản xuất được duy trì thường xuyên, sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường và có liên kết tiêu thụ ổn định. Thực hiện tốt các quy định mới về cấp, quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, nâng cao hiệu quả quản lý, tạo nền tảng để nông sản Sơn La nâng cao giá trị và mở rộng thị trường.

Nguyễn Yến

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/kinh-te/tam-ve-thong-hanh-dua-nong-san-vuon-xa-sFaGtyqvg.html