Tản mạn: Hành trình về đất Tổ
Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng máu Tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam!

Lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Ảnh: Vietnam+.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba”.
Về với Đền Hùng là về với cội nguồn dân tộc, để tự hào về dòng máu Tiên rồng đang chảy trong huyết mạch của mỗi người dân Việt Nam!
Chúng tôi đến đất Tổ vào một ngày mưa. Lịch “ta” hôm nay là mùng Bảy tháng Ba. Cụ bà nhà chị Thanh (mẹ chồng chị gái tôi) bảo năm nào cũng vậy, cứ trước và sau ngày giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch) là đất trời Phú Thọ lại đổ mưa.
Người ta gọi đó là những cơn mưa rửa đền, mát mẻ và sạch sẽ... Bà còn nói mưa rửa đền gắn liền với nghi thức làm lễ “mộc dục”, tức là tắm tượng và các đồ thờ chốn đền miếu trước khi tiến hành các nghi lễ trong mùa lễ hội, làm cho không gian cúng tế được thanh tịnh, trang nghiêm.
Tôi háo hức được tắm mát tâm hồn mình trong những cơn mưa tinh khôi, huyền bí ấy. Cầu được ước thấy, chỉ một lát sau, chúng tôi được chiêm ngưỡng một trận mưa thật ngoạn mục! Mưa ào ạt và chóng vánh. Mưa xong là tạnh ngay.
Trời Phong Châu sau cơn mưa thật tinh khôi, trong trẻo càng làm tăng thêm vẻ đẹp kỳ vĩ, linh thiêng của Đền Hùng. Chúng tôi đi trong ánh bình minh rực rỡ của một ngày mới. Đất trời như hiểu lòng người, ban cho những tia nắng thần tiên của vùng đất Tổ.
Đầu tiên, chúng tôi đến đền Hạ. Bà bảo, đây chính là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con trai. Nguồn gốc “đồng bào” nghĩa là “cùng bọc” được bắt nguồn từ đây.
Chỉ tay về phía sau, nơi còn dấu tích cái giếng, bà bảo, giếng “Mắt Rồng” là nơi mẹ Âu Cơ ấp trứng... Nghĩ về câu chuyện truyền thuyết xưa về mẹ Âu Cơ, tôi lại liên tưởng tới những người mẹ Việt Nam bền bỉ, đảm đang nuôi nấng những đứa con trong gian khó mà đẹp như thiên thần, ngoan ngoãn, biết thương nhau những lúc cơ hàn, khốn khó…
Ngay dưới chân đền Hạ là nhà bia với kiến trúc cầu kỳ hình lục giác, có sáu mái lợp bằng gạch bìa, trên đỉnh có đắp hình nậm rượu. Tôi thực sự xúc động khi đọc dòng chữ trên tấm bia đá: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đó là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1954.
Trong làn nắng mỏng, chúng tôi thong thả ngắm nhìn khung cảnh non nước mùa Xuân đất Tổ. Dừng lại trước một ngôi chùa có tên là Thiên Quang Thiền Tự, anh rể tôi vốn là kiến trúc sư nên dành thời gian ngắm nghía rất lâu những kiểu cách đường nét của những công trình kiến trúc cổ.
Anh bảo, ngôi chùa này thật đẹp được xây theo kiểu “nội công ngoại quốc”, các tòa được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt. Mái chùa được lợp ngói mũi, đầu đao cong. Bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt thật là kiểu cách…
Chúng tôi lại có dịp chiêm ngưỡng cây vạn tuế trước cửa chùa Thiên Quang cạnh đền Hạ. Bà rủ rỉ, cây cối ở đây có linh hồn đấy, nhất là những cây có tuổi thọ cao như cây vạn tuế này. Dù cùng trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, ba nhánh của cây vẫn ra lá xanh tươi.
Tiếp tục cuộc hành trình, cô hướng dẫn viên đưa đoàn chúng tôi đến đền Trung (Hùng Vương Tổ miếu). Cô giới thiệu: “Đây là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn ngắm cảnh thiên nhiên và họp bàn việc nước. Nơi đây Vua Hùng thứ sáu nhường ngôi cho Lang Liêu - người con hiếu thảo có công làm ra bánh chưng, bánh giầy dâng lên Tiên Tổ trong ngày lễ Tiên Vương...”.
Chúng tôi tiếp tục theo chân cô hướng dẫn viên lên đền Thượng và lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Hùng (còn có tên là Nghĩa Lĩnh) có độ cao 175m so với mặt nước biển. Tối qua, nghe các cụ trong làng nói rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam, mình rồng uốn khúc thành các núi Vặn, Trọc, Pheo.
Theo truyền thuyết, đây là ba đỉnh “Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời. Giữa bát ngát núi đồi, chúng tôi phóng tầm mắt ra xa. Dưới chân núi Hùng là những quả đồi lớn san sát như bát úp trải dài nối tiếp nhau trông xa chẳng khác nào một đàn voi chầu về đất Tổ.

Minh họa/INT.
Hiện ra trước mắt chúng tôi là ngã ba Bạch Hạc với sự hợp lưu của ba dòng sông lớn nhất miền Bắc: Sông Hồng, sông Lô, sông Đà, tạo ra vùng sông nước mênh mông, rộng lớn trông xa như dải lụa đào mềm mại giữa bát ngát trung du xanh màu huyền thoại.
Cảnh trời hùng vĩ, thế đất linh thiêng, nơi đây quả là nơi tụ hội của đất trời. Đứng trên đỉnh cao Nghĩa Lĩnh, chúng tôi thỏa sức ngắm nhìn cả vùng núi sông rộng lớn với vẻ đẹp hòa quyện bao la của sơn thủy hữu tình. Còn gì hạnh phúc hơn được là những người con mang dòng máu Lạc Hồng xa xứ trở về đây, bốn biển năm châu, chân trời góc biển, muôn nẻo xa gần cùng về một tổ tiên.
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình tới lăng Hùng Vương, đền Giếng và đền Tổ Mẫu Âu Cơ… Tới mỗi nơi, chúng tôi đều kính cẩn thắp nén nhang thành kính lên tổ tiên! Mùi nhang trầm thơm ngát tỏa đi muôn nơi như tấm lòng thảo thơm của mỗi người con xa quê trở về nơi đất Tổ!
Ào ào… trời trung du đang trong xanh bỗng nhiên lại đổ xuống trận mưa trong ngần trong thoáng chốc. Bà nhìn mưa hồ hởi nói: “Mưa cho mát mày mát mặt. Mưa cho thấm đẫm ruộng đồng, mưa cho may mắn tìm đến”…
Tôi ngắm nhìn những cây si già uy nghi chòm râu nâu bạc chấm đất; những cây chò rung rinh cành lá vút tận trời xanh và vô vàn những loài cây cổ sơ như thông, lụ, kim giao lúp xúp… Cây cổ thụ, cây cổ sơ, cao thấp trập trùng đứng bên nhau canh lăng mộ Vua Hùng. Cây cối bao đời vấn vít tụ lại quần quanh mộ Tổ. Khói hương trầm thơm tho thấm trong từng thớ gỗ.
Thắp nén nhang thơm, lòng ta thư thái nghe như tiếng ngàn năm vọng về yêu thương che chở, nhắc nhở ta cùng vững bước đi lên, đoàn kết xây dựng nước non nhà. Đến dâng hương lòng ta thầm ước chung cội vững gốc bền lâu!
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/tan-man-hanh-trinh-ve-dat-to-post775372.html











