Tản mạn Thần Bạch Mã

Thần Bạch Mã là vị thần hiện được thờ cúng tại đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Từ thời Lý, đó là ngôi đền trấn phía Đông, tương ứng với đền Quán Thánh trấn phía Bắc, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Voi Phục trấn phía Tây thành Thăng Long.

Đền Bạch Mã có từ khi nào?

Về vấn đề này, ngọc phả đền Bạch Mã ở thôn Đặng Xá, xã Văn Xá, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cũ, do học giả Nguyễn Bính thời Lê soạn, đưa ra một câu trả lời, đại ý:

Khi quan nhà Đường là Cao Biền cho xây thành Đại La, thấy trong mây ngũ sắc hiện ra một dị nhân cưỡi rồng đỏ, lượn lờ một hồi lâu. Biền kinh sợ muốn trấn yểm. Đêm đến, Biền mơ thấy một vị thần tướng cưỡi ngựa trắng từ trên trời tới nói rằng: “Ta là thần Long Đỗ, nghe tin ông xây thành nên đến gặp, cớ sao phải trấn yểm”. Tỉnh dậy, Biền vẫn lấy đồng làm bùa trấn yểm. Đêm đó mưa to sấm chớp đùng đùng, hôm sau bùa đồng bị phá nát. Biền thấy lạ, bèn cho dựng đền ở cửa Đông thành để thờ vị thần tướng đó, sắc phong cho Ngài làm Linh Lang Bạch Mã Tôn Thần…

Tượng Bạch Mã trong đền Bạch Mã, Hà Nội

Tượng Bạch Mã trong đền Bạch Mã, Hà Nội

Khi khởi nghiệp, Đinh Bộ Lĩnh đã đến vùng Kim Bảng quê vợ để lập đồn trại, chiêu mộ binh mã và tích trữ lương thảo. Khi đưa quân đi dẹp loạn 12 sứ quân (năm 966), Ngài đã đến miếu Linh Lang Bạch Mã ở thành Đại La làm lễ cầu xin âm phù…

Sau khi lên ngôi hoàng đế, vua lại mơ thấy thần… Thấy linh ứng, vua phong cho thần danh hiệu Hộ Quốc Bảo Cảnh - Linh Thông Tế Thế, Đô Đại Thành Hoàng - Linh Lang Bạch Mã Đại Vương - Thượng Đẳng Phúc Thần.

Vua cũng sai người mang sắc phong về Đặng Xá - quê của Hoàng hậu Dương Thị Nguyệt, truyền cho dân xây riêng một đền để thờ Thần Linh Lang Bạch Mã ở đây.

Khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (năm 1010), vua đổi tên thành là Thăng Long và cho mở rộng thành. Tuy nhiên, nhiều đoạn thành cứ đắp lên lại đổ. Vua cho người cầu khấn thần Long Đỗ bảo hộ thành. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến dặn vua cứ theo dấu vó ngựa trắng mà đắp. Sau đó, một con ngựa trắng xuất hiện từ đền đi ra theo hướng Tây rồi vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền. Nhà vua làm theo lời thần, quả nhiên, thành đắp đến đâu, được đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần tiếp tục làm Thành hoàng thành Thăng Long…

Như vậy, theo thuyết trên, vào thế kỷ 9, Cao Biền đã dựng lên đền thờ thần Long Đỗ vốn là thần đất Đại La. Do vị thần đó hiển linh cưỡi ngựa trắng nên được phong danh hiệu Linh Lang Bạch Mã. Sau này, thần đã âm phù giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và Lý Công Uẩn xây thành Thăng Long, trở thành Thành hoàng thành Thăng Long…

Tuy nhiên, trong “Việt Điện U linh” và “Lĩnh Nam chích quái” soạn thời Lý - Trần, hai truyền thuyết về thần Tô Lịch và thần Long Đỗ không nói gì đến mối liên hệ giữa Cao Biền với thần Bạch Mã và cũng không có truyền thuyết nào nói về Đinh Bộ Lĩnh.

Trong khi đó, việc giải mã tên gọi Linh Lang Bạch Mã cho thấy có mối liên hệ rõ ràng hơn giữa ngôi đền thờ vị thần này với Đinh Bộ Lĩnh.

Linh Lang - biểu tượng cho vật tổ nhà Đinh

Các tư liệu liên ngành cho thấy Đinh Bộ Lĩnh có gốc từ một nhóm dân vùng biển chuyên đánh cá, mò ngọc trai và có tục thờ vật tổ rái cá, con vật thông minh, giỏi bơi lặn và ở một số nơi, được thuần hóa và huấn luyện để giúp người săn bắt cá.

Một truyền thuyết kể: mẹ Đinh Bộ Lĩnh lỡ có mang với một con rái cá lớn, sinh ra Đinh Bộ Lĩnh. Sau dân làng bắt được rái cá, ăn thịt rồi vứt xương đi. Mẹ Đinh Bộ Lĩnh nhặt chỗ xương ấy, gói lại đem về treo ở bếp. Đinh Bộ Lĩnh lớn lên rất khỏe mạnh, thông minh, lại giỏi bơi lặn nên đã đem được bộ xương rái cá - cha mình đặt vào long mạch là miệng một con ngựa đá dưới vực sâu, nhờ đó sau trở thành Hoàng đế.

Tín ngưỡng thờ vật tổ rái cá từng có ở nhiều nhóm người ven biển Bắc Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á. Trong tâm thức của người Bách Việt xưa, rái cá, chó, rắn... là những biểu tượng tương đương có thể thay thế nhau và đều có thể hóa rồng (biểu tượng của thần nước, thần mưa, vua chúa). Người Dao gọi Ông Tổ Bàn Hồ của mình là Long Khuyển (Chó Rồng). Một số nhóm Dao sau đã chuyển quan niệm từ Ông Tổ Chó sang Ông Tổ Rồng. Một nhóm thờ vật tổ rái cá ở ven biển Quảng Đông được gọi là “Người - Rái Cá” hay “Người Rồng”… Rái cá là vật tổ của một số nhóm dân ven biển thời Đông Sơn, bằng chứng là hình rái cá trên một số trống Đông Sơn như Miếu Môn, Phú Xuyên, Yên Tập...

Với người Việt xưa, tộc người sống gắn với sông nước, gọi nơi mình sống là “nước” hay “đất nước” thì các con vật nước như rắn, rùa, cá sấu, rái cá… đã được tôn thành Thần Nước - Thần Mưa và là hiện thân của tổ tiên. Trong tâm thức Việt xưa, vua là con cháu của Thần Nước - thần bảo hộ đất nước.

Lạc Long Quân, vị Thủy Tổ của người Việt là Vua Rồng - Thần Nước. Ông Tổ của An Dương Vương có tên là Miết Linh (Rùa Thần), trong truyền thuyết đã hóa thành thần Rùa Vàng giúp vua xây thành Cổ Loa và bảo vệ nước Âu Lạc.

Trong tiếng Hán - Việt cổ, từ lang gốc chỉ chó sói nhưng cũng được dùng để chỉ chó hay rái cá. Trong một số ngôn ngữ trên thế giới, rái cá được gọi là “chó nước”, còn rái cá đực được gọi là “chó”…

Thời Lý, Linh Lang là danh hiệu của Hoàng tử Hoằng Chân, con vua Lý Thái Tông được thờ ở đền Voi Phục, đền trấn phía Tây thành Thăng Long. Dân gian coi Linh Lang là thần rắn nước đã đầu thai thành người để giúp vua Lý đánh giặc. Tuy nhiên, thực chất đó là thần chó, vật tổ của nhà Lý, điều được phản ánh qua một loạt truyền thuyết về mối liên hệ thần bí giữa Lý Công Uẩn với chó cũng như việc vua Lý đã cho phép 289 làng, trại trong cả nước xây đền miếu thờ Linh Lang…

Thời Nguyễn, Lang lại nhị đại tướng quân là danh hiệu được phong cho đôi rái cá đã có ơn cứu mạng Nguyễn Ánh tức Gia Long, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn. Có thể suy ra vào thời Đinh, Linh Lang là danh hiệu cho Thần Rái Cá - Ông Tổ và Thần Bảo hộ của nhà Đinh.

Như vậy, trong danh hiệu Linh Lang Bạch Mã, Linh Lang chỉ Thần Rái Cá, còn Bạch Mã?

Bạch Mã - một biểu tượng của Phật giáo

Bạch Mã (Ngựa Trắng) là một biểu tượng lớn của Phật giáo. Với các Phật tử Ấn Độ, Bạch Mã là vật cưỡi ưa chuộng của Hoàng tử Siddhartha, người sau này trở thành Đức Phật Tổ. Ngoài ra, Bạch Mã cũng là một biểu tượng của sức mạnh thần linh, của phúc lành và mối liên hệ giữa thần linh với vua chúa.

Với các Phật tử Trung Quốc, Bạch Mã lại là một biểu tượng cho sự tiếp thu Phật giáo.

Phật giáo bắt đầu du nhập vào Trung Quốc vào thế kỷ 1. Đánh dấu cho sự kiện này, năm 68, một ngôi chùa mang tên Bạch Mã đã được dựng lên ở thành Lạc Dương, Hà Nam. Đó chính là ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc, được coi là chiếc nôi của Phật giáo Trung Hoa bởi là nơi đón tiếp các nhà sư Ấn Độ đầu tiên, dựng tòa bảo tháp đầu tiên, nơi tàng trữ những bộ kinh Phật đầu tiên. Theo truyền thuyết, chùa được đặt tên Bạch Mã bởi ngựa trắng đã đưa các vị sư cùng các bộ kinh Phật đầu tiên đến Trung Quốc.

Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam vào thế kỷ 2-3, nhưng đến thời Đinh Bộ Lĩnh, Phật giáo mới trở thành quốc giáo. Năm 969, vua Đinh ban cho Thiền sư Ngô Chân Lưu, một người tinh thông tam giáo (Nho, Phật, Lão) danh hiệu Khuông Việt đại sư (Đại sư phò tá nước Việt) để giúp vua việc triều chính như một Quốc sư. Năm 971, vua lại ban cho ông chức Tăng thống, người đứng đầu Phật giáo Việt.

Thời Đinh Bộ Lĩnh cũng là thời tinh thần quốc gia - dân tộc Việt phát triển tới đỉnh cao với việc Đinh Bộ Lĩnh xưng Hoàng đế, trở thành vị Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau thời Bắc thuộc và với đặt tên nước là Đại Cồ Việt, mở đầu cho thời đại độc lập - tự chủ - thống nhất và chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, danh hiệu Linh Lang Bạch Mã dành cho vị thần Hộ quốc thể hiện sự kết hợp tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên - Thần Nước Việt với Phật giáo. Theo cách nói thời nay, danh hiệu đó thể hiện sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Tóm lại, đền Bạch Mã và thần Bạch Mã gắn với danh hiệu Linh Lang Bạch Mã đã ra đời vào thời Đinh Bộ Lĩnh. Sự tồn tại thực tế của ngôi đền thờ Linh Lang Bạch Mã thứ hai ở quê Hoàng hậu Dương Thị Nguyệt càng khẳng định điều này.

Tạ Đức

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/khoa-hoc-van-minh/tan-man-than-bach-ma-i796198/