Tản mạn về những 'khu tập thể yên tĩnh'
Trong vở kịch nổi tiếng 'Tôi và chúng ta' (viết năm 1984), nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ từng gọi nghĩa trang là khu tập thể yên tĩnh.

Còn tôi, hay bất cứ ai đó cũng đã từng hơn một lần rưng rưng thắp nén tâm hương lên mộ người đã khuất với bao nỗi niềm. Đó có thể là một người thân còn lưu giữ trong ta thật nhiều kỷ niệm và cũng có thể là một người xa lạ mà ta không rõ tuổi tên. Nhưng có lẽ những nén hương trên bia mộ các liệt sĩ luôn khiến lòng ta xúc động nhiều nhất - xúc động về sự hy sinh của những người con trai, con gái tuổi còn rất trẻ đã vĩnh viễn nằm xuống, đã hy sinh cả xương máu và tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của đất nước.

Những nén hương trên bia mộ các liệt sĩ luôn khiến lòng ta xúc động nhiều nhất - xúc động về sự hy sinh của những người con trai, con gái tuổi còn rất trẻ đã vĩnh viễn nằm xuống, đã hy sinh cả xương máu và tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của đất nước.
Đôi lúc tôi tự hỏi mình: Liệu trên khắp dặm dài đất nước có hình chữ S này đã có bao nhiêu đài tưởng niệm Tổ quốc ghi công, bao nhiêu nghĩa trang liệt sĩ? Chiến tranh đã lùi xa chỉ còn lại quá khứ, còn lại những hàng bia trắng, những đôi nạng gỗ, những giọt nước mắt… là những năm tháng hào hùng, là cái gạch nối cho một tương lai tươi đẹp.
Ngày hôm qua ở lại trong hồi ức của bà, trong chiếc ba lô của bố, trong bình tông đựng nước đã theo suốt một thời gian khó, trong những trang nhật ký tuổi 20 xếp vội bút nghiên... Ngày hôm qua được gạch nối với ngày hôm nay bằng những đóa hoa được thả trôi trên dòng Thạch Hãn, trên vĩ tuyến 17, để nhắc nhớ chúng ta về một mùa hè đỏ lửa, một dòng sông nhuốm máu, và những bông lau trắng mọc bên bờ sông như thì thầm đọc nốt câu thơ còn dang dở của những chàng trai, cô gái có tuổi thanh xuân ở lại ...

Chiến tranh đã lùi xa, vậy mà còn biết bao gia đình chưa tìm được mộ người thân? Tôi thường hay thắc mắc về điều đó mỗi khi nghĩ về ông nội kính yêu của tôi. Tôi sinh ra khi đất nước đã bình yên, không còn một tiếng súng. Tôi được đón nhận tình yêu thương và gửi gắm bao niềm mong mỏi của bố mẹ, của bà nội và các cô, chú, chỉ riêng ông nội là tôi không hề được biết và sẽ không bao giờ được gặp. Bà nội tôi bảo "ông nội đã đi xa, xa lắm"... Tôi chỉ biết ông nội qua lời kể đầy sự kính trọng và những kỷ niệm ít ỏi nhưng sâu sắc của bố mỗi khi nhớ về ông. Ông nội tôi đã yên nghỉ ở đâu trên cánh rừng Trường Sơn đại ngàn?
Tôi chỉ biết ông nội qua lời kể đầy sự kính trọng và những kỷ niệm ít ỏi nhưng sâu sắc của bố mỗi khi nhớ về ông. Ông nội tôi đã yên nghỉ ở đâu trên cánh rừng Trường Sơn đại ngàn?
Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. (Ảnh: Thành Đạt)
Càng lớn, tôi và các em tôi càng thấm thía hơn sự ra đi của ông nội. Mỗi năm, gia đình tôi đều có sự chuẩn bị chu đáo trong ngày giỗ của ông, dù ít, dù nhiều nhưng đó là sự ghi nhớ thật sâu sắc. Và, ấu thơ trong tôi không thể quên được mỗi buổi chiều 26/7 dương lịch, cha tôi chắp tay khấn vái trước bàn thờ ông nội. Lúc đó tôi không hiểu vì sao cha lại thắp hương mà không phải là ngày giỗ. Nhưng rồi, cha đã nói với chúng tôi thật cặn kẽ về điều đó: "Ngày mai là 27/7, ngày cả nước kỷ niệm và ghi nhớ công ơn của các thương binh, liệt sĩ đã hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Vì thế, cha thắp nén hương lên bàn thờ ông, để ông còn đi duyệt binh, đi hành quân cùng đồng đội cho cứng chân chắc tay". Không biết lời giải thích của cha tôi có đúng hay không? Nhưng từ những năm sau đó, chị em tôi không ai bảo ai đều chuẩn bị chu đáo những bông hoa huệ ngát hương thơm dâng lên bàn thờ ông nội vào chiều 26/7. Và, hình như ông nội và cha đều mỉm cười với chị em tôi về điều đó.

Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. (Ảnh: Thành Đạt)
Tôi nhớ, những ngày này của tháng 7/2001, người dân xã Tam Sơn (Phú Thọ) quê tôi không ai cầm được nước mắt trong ngày khánh thành Nghĩa trang tưởng niệm các liệt sĩ của hai cuộc kháng chiến. Tôi cũng như tất cả mọi người đều có đủ lý trí để hiểu rằng, đó chỉ là những hàng bia gắn để tưởng niệm chứ không hề có được hài cốt hay di vật của thân nhân, nhưng tất cả mọi người đã khóc, những giọt nước mắt hòa trong cơn mưa của trời, tan trong từng nắm đất đưa tiễn các anh linh. Hình như ai cũng run lên vì một danh sách dài tên các liệt sĩ của xã, run lên vì những năm tháng ấy cái xã bé nhỏ này đã lần lượt nhận bao nhiêu giấy báo tử của người thân? Bao nhiêu người con của xã đã lần lượt nằm xuống trong hai cuộc kháng chiến? Nhưng tự lòng tôi biết ơn nhiều lắm, nhờ việc xây dựng khu nghĩa trang này mà chúng tôi nhận thức được sâu sắc sự hy sinh to lớn của thế hệ đi trước để giữ làng giữ nước, nhờ có những tấm bia mà chúng tôi đọc rõ tên cha anh và tôi được thắp nén hương thơm lên phần mộ của ông nội trong ngày 27/7 như một sự bù đắp dù là ít ỏi.
Tôi hiểu, rất có thể xương thịt của ông tôi đã tan vào lòng đất nhưng tôi và cha tôi cũng như rất nhiều thân nhân của bao gia đình khác vẫn mong là sẽ đón được người thân trở về bên con cháu, xóm làng...
Tôi theo học nghề báo. Ngoài tình yêu nghề còn là sự theo đuổi một hy vọng: Nghề báo được đi nhiều, đi xa, biết đâu sự mách bảo của tâm linh sẽ giúp tôi tìm được phần mộ của ông nội. Tôi hiểu, rất có thể xương thịt của ông tôi đã tan vào lòng đất nhưng tôi và cha tôi cũng như rất nhiều thân nhân của bao gia đình khác vẫn mong là sẽ đón được người thân trở về bên con cháu, xóm làng. Mỗi lần có dịp thăm viếng một nghĩa trang liệt sĩ ở nơi nào đó, tôi không bao giờ quên thắp nén hương lên từng phần mộ của các liệt sĩ cũng như bao người khác ở một nơi nào đó đã làm như thế với phần mộ của ông nội tôi mà gia đình tôi chưa có dịp được thăm viếng. Sự mong mỏi của tôi mong manh như sợi chỉ nhưng tôi vẫn tin ngàn sợi chỉ nhỏ sẽ dệt nên sự bền chặt của tấm áo Tổ quốc.
Chiến tranh đã kết thúc bằng một đỉnh cao chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Chiến tranh đã đi qua với khúc hát khải hoàn của tên gọi những đứa con mang bao thông điệp, đó là Hòa-Bình-Hạnh-Phúc... Nhưng chiến tranh cũng còn lại những nghĩa trang rộng lớn, bước chân người đi đã mỏi mà vẫn không thắp hết những nén nhang thơm...

Tôi đã từng đón nhận cái thanh thản tĩnh lặng của Nghĩa trang Liệt sĩ Mai Dịch, ngồi bên mộ cụ Văn Cao - tác giả bài quốc ca bất tử ...
Tôi đã bước đi thật khẽ để giữ yên lặng cho người nằm dưới mộ, giữa thênh thang những hàng bia có gắn sao nơi Nghĩa trang Hàng Dương, Trường Sơn, Đường 9…
Tôi đã cúi cầu xin được hà hít chút hương bồ kết dịu dàng nơi Nghĩa trang Liệt sĩ Ngã ba Đồng Lộc, như thấy đâu đây mái tóc của những cô gái mười tám, đôi mươi trong chiếc cặp ba lá ...

Phần mộ liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ A1.
Tôi đã xúc động biết bao khi chứng kiến người lính già ở tuổi gần đất xa trời, lên với Điện Biên lần này mà không dám hẹn lần sau - những người lính mái đầu bạc trắng, viếng Nghĩa trang Liệt sĩ A1 mà như đang đứng trước hàng quân, như đến chào đồng đội lần cuối. Trong trí nhớ tuổi xế chiều ấy là trận chiến trên cứ điểm Hồng Cúm, Him Lam với mưa dầm, cơm vắt, là hình ảnh những người dân công từ bao miền quê nghèo trên khắp mọi miền đất nước đã nằm lại với mảnh đất này, tề tựu bên nhau, ngắm thung lũng Mường Thanh đang nhuộm vàng sắc nắng và thơm mùi lúa mới, để cùng hòa chung một điệu xòe hoa mừng ngày chiến thắng…
Bất giác, tôi nhẩm đọc những câu thơ của nhà thơ, nhà báo Văn Hiền trong bài Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh:
“Bình yên sau cuộc chiến tranh
Anh trở về không tên, không tuổi
Trắng hàng bia những ngôi sao không nói
Rưng rưng cỏ mọc dưới chân”…
Bài thơ ra đời từ nỗi day dứt khôn nguôi của tác giả khi chứng kiến những hàng bia trắng khắc dòng chữ "liệt sĩ vô danh" tại các nghĩa trang liệt sĩ. Tác phẩm này đã chạm đến trái tim hàng triệu độc giả, góp phần thay đổi cách gọi trên bia mộ từ "vô danh" thành "chưa biết tên" để trả lại danh tính cho những người con đã ngã xuống vì Tổ quốc.
Vâng! Lịch sử không chỉ được ghi trong biên niên, mà còn được thể hiện sống động qua những con người bình dị đã góp phần làm nên thời đại. Bởi vậy, tôi yêu Tổ quốc tôi bằng tình yêu với ngôi nhà của nội - ngôi nhà đã bao lần phải chạy nước sông Lô mùa lũ, ngôi nhà đã nuôi cha tôi lớn lên và đón mẹ tôi chập chững về làm dâu, ngôi nhà đã ru tôi những khúc hát bên nôi, và từ ngôi nhà này ông nội tôi đã vĩnh viễn ra đi hòa tan vào núi, vào sông của đất nước này.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tan-man-ve-nhung-khu-tap-the-yen-tinh-post976468.html












