TAND tối cao yêu cầu rút kinh nghiệm trong giải quyết án hôn nhân, gia đình

TAND tối cao ban hành Công văn về việc rút kinh nghiệm trong công tác xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, đáng chú ý là việc xác định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và phân chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp tại doanh nghiệp.

Công văn số 496/TANDTC-GĐKTIII ngày 26/8/2026 về việc rút kinh nghiệm trong công tác xét xử, giải quyết các vụ việc được gửi đến Chánh án TAND cấp tỉnh, yêu cầu các Tòa án địa phương quán triệt, rút kinh nghiệm nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác.

Xác định đúng nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ

Theo Vụ Giám đốc, kiểm tra III, TAND tối cao, trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn, một số Tòa án khi quyết định nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xác định nghĩa vụ của các bên đương sự.

 TAND tối cao đề nghị giải quyết án ly hôn cần xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, tránh nhầm lẫn với nghĩa vụ chịu án phí.

 TAND tối cao đề nghị giải quyết án ly hôn cần xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, tránh nhầm lẫn với nghĩa vụ chịu án phí.

Tòa án nhân dân tối cao cho rằng cách xác định này là chưa chính xác. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, không điều chỉnh nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Căn cứ khoản 3 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, trong vụ án ly hôn, nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp hai bên thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Từ đó, TAND tối cao đề nghị các Tòa án khi giải quyết án ly hôn cần căn cứ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để xác định nghĩa vụ chịu loại chi phí này, tránh nhầm lẫn với nghĩa vụ chịu án phí.

Phân chia phần vốn góp tại doanh nghiệp phải tính đến hậu quả pháp lý

Một nội dung khác được Tòa án nhân dân tối cao lưu ý là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Theo công văn, trong một số vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn”, tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trong đó cả vợ và chồng đều là thành viên góp vốn. Khi giải quyết, có trường hợp Tòa án quyết định giao cho mỗi bên quản lý một công ty và buộc bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn thanh toán phần chênh lệch cho bên còn lại.

Tòa án nhân dân tối cao đánh giá, cách giải quyết này chưa xem xét đầy đủ tính chất pháp lý của tài sản tranh chấp cũng như hậu quả của phương án phân chia.

 Bị đơn và các luật sư trong vụ án tranh chấp tài sản khi ly hôn lên đến hàng nghìn tỉ đồng.

 Bị đơn và các luật sư trong vụ án tranh chấp tài sản khi ly hôn lên đến hàng nghìn tỉ đồng.

Theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và có từ 2 đến 50 thành viên. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp liên quan đến phần vốn góp, Tòa án cần xem xét đầy đủ đặc điểm pháp lý của loại tài sản này, không chỉ đơn thuần xác định giá trị để chia cho các bên.

Đặc biệt, trường hợp việc phân chia dẫn đến công ty chỉ còn một thành viên sẽ đặt ra yêu cầu tổ chức lại doanh nghiệp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp. Nếu bản án không tính đến những vấn đề này, việc thi hành có thể gặp khó khăn, đồng thời ảnh hưởng đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của công ty, người lao động, chủ nợ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Không chỉ chia tài sản, phải tính đến khả năng thi hành bản án

Từ những vấn đề được chỉ ra, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu khi giải quyết việc chia tài sản chung sau ly hôn mà tài sản là phần vốn góp tại doanh nghiệp, Tòa án cần xác định chính xác đối tượng tài sản; thu thập đầy đủ hồ sơ pháp lý, điều lệ công ty, số đăng ký thành viên và các tài liệu liên quan.

Đồng thời, phương án phân chia phải được xem xét trong mối quan hệ với cơ cấu thành viên, loại hình doanh nghiệp và hoạt động thực tế của công ty. Đây là những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thi hành bản án sau khi có hiệu lực.

Công văn của Tòa án nhân dân tối cao không chỉ nhằm chỉ ra những thiếu sót cụ thể trong quá trình giải quyết án mà còn đặt ra yêu cầu đối với công tác nghiên cứu hồ sơ, đánh giá hậu quả pháp lý của phán quyết. Đối với các tranh chấp có tài sản đặc thù như phần vốn góp tại doanh nghiệp, việc xác định giá trị tài sản để phân chia cần đi liền với việc xem xét địa vị pháp lý của doanh nghiệp và những thay đổi có thể phát sinh sau khi bản án được thi hành.

TAND tối cao đề nghị các đơn vị quán triệt và rút kinh nghiệm chung đối với những nội dung nêu trên, qua đó góp phần bảo đảm việc áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác trong công tác xét xử, giải quyết các vụ, việc hôn nhân và gia đình.

Nguồn BVPL: https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/thuc-tien-kinh-nghiem/tand-toi-cao-yeu-cau-rut-kinh-nghiem-trong-giai-quyet-an-hon-nhan-gia-dinh-205143.html