Tăng cường cơ chế pháp lý, tạo đòn bẩy xét xử án sở hữu trí tuệ
Trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, việc xây dựng cơ chế xét xử chuyên sâu đối với các tranh chấp, vi phạm về sở hữu trí tuệ là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, khi công nghệ phát triển, sự xuất hiện vô vàn hình thức xâm phạm sở hữu trí tuệ đã đặt ra không ít khó khăn đối với công tác xét xử.

Hành vi vi phạm trên các nền tảng số ngày càng diễn biến phức tạp.
Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ - cơ chế hiệu quả xử lý vi phạm
Từ ngày 1/7/2025, Tòa chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân khu vực 2-Hà Nội và Tòa án nhân dân khu vực 1-Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được thành lập. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2-Hà Nội Hoàng Ngọc Thành nhận định: “Đây cũng là chủ trương thể hiện quyết tâm của ngành tòa án trong việc thực hiện các định hướng cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử theo chỉ đạo của lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế số, cũng như cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”.
Theo Chánh án Hoàng Ngọc Thành, việc tổ chức mô hình xét xử chuyên sâu sẽ góp phần rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, nâng cao chất lượng phán quyết, tăng tính dự báo trong áp dụng pháp luật, đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền sáng tạo và quyền tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân, củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước và quốc tế đối với cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Chánh án Hoàng Ngọc Thành cho biết, từ ngày 1/7/2025 đến nay, Tòa án nhân dân khu vực 2-Hà Nội đã thụ lý 27 vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại liên quan sở hữu trí tuệ. Các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại chủ yếu tập trung vào quyền tác giả và quyền liên quan. Đến nay, đơn vị đã giải quyết, xét xử 5 vụ việc. Các vụ việc còn lại đang trong quá trình chuẩn bị đưa ra xét xử theo luật định.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, số lượng các vụ án hình sự được phát hiện, khởi tố và các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ đã khởi kiện và chuẩn bị xét xử hiện nay vẫn chưa phản ánh đầy đủ tình hình vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thực tế đang diễn ra tại Việt Nam. Sau gần một tháng triển khai cao điểm theo Công điện số 38/ CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, riêng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã kiểm tra, xử lý 1.520 vụ, tăng 370,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm hơn 40% tổng số vụ vi phạm bị xử lý. Trên môi trường số, trong thời gian cao điểm vừa qua, hơn 9.130 sản phẩm vi phạm đã bị gỡ bỏ và hơn 2.000 gian hàng bị chặn khỏi các nền tảng thương mại điện tử do có dấu hiệu kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Khó khăn khi xử lý vi phạm trên môi trường mạng
Là người thường xuyên trực tiếp xét xử các vụ án về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân khu vực 2-Hà Nội, Thẩm phán Hoàng Nghĩa Hải cho biết, diện mạo của các tranh chấp và vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đang có nhiều thay đổi sâu sắc do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số. Trước đây, các hành vi xâm phạm chủ yếu diễn ra trong môi trường vật lý, nhưng hiện nay phần lớn các vụ việc đã dịch chuyển lên không gian mạng với quy mô rộng hơn, tốc độ lan truyền nhanh hơn và phương thức thực hiện tinh vi hơn.
Thực tế cho thấy, mục tiêu xâm phạm của nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ không đơn thuần là hàng hóa, nhãn hiệu hay kiểu dáng công nghiệp mà là dữ liệu khách hàng, phần mềm, bản quyền số, bí mật kinh doanh và uy tín thương hiệu.
Các đối tượng vi phạm thường tận dụng công nghệ cao, tài khoản ảo, máy chủ đặt ở nước ngoài, mạng riêng ảo (VPN), công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) hoặc hệ thống trung gian để che giấu danh tính và xóa dấu vết kỹ thuật số. Không ít trường hợp các hoạt động kinh doanh hàng giả, hàng nhái được chia nhỏ thành nhiều khâu khác nhau, thực hiện thông qua livestream, mạng xã hội và dịch vụ chuyển phát nhanh nhằm né tránh sự kiểm tra, xử lý của cơ quan chức năng.
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đối với công tác xét xử các vụ án xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chính là việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ điện tử trong môi trường số. Theo Thẩm phán Hoàng Nghĩa Hải, khác với các chứng cứ truyền thống, dữ liệu số có thể bị chỉnh sửa, xóa bỏ hoặc thay đổi trong thời gian rất ngắn. Khi Tòa án tiến hành xác minh thì nhiều trường hợp các nội dung vi phạm đã bị gỡ bỏ hoàn toàn khỏi internet. Việc xác định chủ thể thật sự đứng sau một website, tài khoản mạng xã hội hay một hệ thống kinh doanh trực tuyến cũng không hề đơn giản bởi các đối tượng thường sử dụng nhiều lớp trung gian kỹ thuật nhằm che giấu danh tính.
Chánh án Hoàng Ngọc Thành cho biết, phần lớn các hành vi vi phạm được thực hiện thông qua nền tảng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử hoặc các hệ thống trung gian đặt máy chủ ở nước ngoài. “Trong nhiều trường hợp, đối tượng vi phạm sử dụng tài khoản ảo, thông tin giả mạo, VPN, Proxy hoặc liên tục thay đổi tên miền, địa chỉ IP nhằm che giấu danh tính và gây khó khăn cho quá trình xác minh, xử lý”, ông Thành cho biết.
Không chỉ vậy, việc thu thập chứng cứ điện tử hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác của các nền tảng số xuyên biên giới cho nên thời gian cung cấp thông tin thường kéo dài hoặc không đầy đủ. Việc giám định đối với dữ liệu số, công nghệ mới hoặc các hành vi vi phạm có yếu tố kỹ thuật cao hiện vẫn còn hạn chế do thiếu đội ngũ chuyên gia và cơ quan giám định chuyên sâu.
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối với loại tội phạm đặc thù này, các thẩm phán trực tiếp xét xử các vụ án dân sự, thương mại hay hành chính về sở hữu trí tuệ cho rằng, cần tăng cường cơ chế bảo toàn chứng cứ sớm, cho phép Tòa án can thiệp kịp thời trong những trường hợp có nguy cơ chứng cứ bị tiêu hủy, thay đổi hoặc tẩu tán dữ liệu.
Mặc dù pháp luật đã có quy định về chứng cứ điện tử khá sớm, song trên thực tế cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về chứng cứ điện tử, cơ chế thu thập dữ liệu số và trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin của các nền tảng trung gian. “Cần chuẩn hóa rõ ràng quy trình thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ điện tử theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế, nhất là các tiêu chí về tính toàn vẹn, tính xác thực và chuỗi bảo quản dữ liệu”, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2-Hà Nội Đinh Thị Kiều My chia sẻ.
Thẩm phán Nguyễn Chế Linh, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ cho rằng, cần chuẩn hóa khái niệm và thuật ngữ pháp lý về chứng cứ điện tử trong các quy định pháp luật, bổ sung các tiêu chí xác định giá trị chứng minh của thông điệp dữ liệu điện tử. Chúng ta phải xây dựng quy trình pháp lý-kỹ thuật riêng cho việc thu thập, bảo quản và giám định chứng cứ điện tử, gắn với các quy định về nghĩa vụ chứng minh và quyền, trách nhiệm thu thập chứng cứ. Quy trình này cần bao quát các tình huống phổ biến trong thực tiễn như phục hồi dữ liệu bị xóa, thu thập dữ liệu trên nền tảng điện toán đám mây, mạng xã hội…
Theo ông Tăng Ðức Khương, Trưởng phòng Thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Công ty TNHH Tầm nhìn và Liên danh (Vision & Associates), thực tiễn các vụ án hành chính về sở hữu trí tuệ cho thấy, vẫn còn nhiều quy định pháp luật chưa rõ, dễ thay đổi theo thời gian, quan điểm vận dụng, áp dụng luật đôi khi không đồng thuận. Ông Khương cho rằng, cần sớm xây dựng luật mới về sở hữu trí tuệ để có thể kịp thời điều chỉnh đồng bộ những vấn đề phát sinh mới trong giai đoạn hiện nay.











