Tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong thu hút dòng vốn ngoại

Ngày 8-6-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặt mục tiêu thu hút đăng ký 200-300 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2026-2030 và đưa khu vực này đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2045.

Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp FDI tại Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng

Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp FDI tại Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết ngày 30-6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt, mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo. Vậy điều gì thực sự quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới?

Từ ưu đãi số lượng sang cạnh tranh chất lượng

Trong nhiều thập kỷ, thu hút đầu tư nước ngoài ở các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thường vận hành theo logic ưu đãi: Miễn, giảm thuế, tiền thuê đất, ưu tiên thủ tục cho từng dự án. Cách làm này hiệu quả trong giai đoạn đầu mở cửa, nhưng bộc lộ giới hạn khi nền kinh tế phát triển cao hơn: Ưu đãi tài chính dễ sao chép, dễ đàm phán lại và dễ bị cạnh tranh bởi những nền kinh tế có chi phí thấp hơn.

Quan trọng hơn, dư địa của ưu đãi thuế đang thu hẹp một cách khách quan do luật chơi quốc tế thay đổi. Từ ngày 1-1-2024, Việt Nam áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu 15% theo Nghị quyết số 107/2023/QH15 của Quốc hội: Với các tập đoàn đa quốc gia thuộc phạm vi áp dụng, phần thuế được ưu đãi dưới mức này sẽ bị thu bổ sung. Cạnh tranh bằng ưu đãi thuế mất dần hiệu lực không phải vì các nước từ bỏ nó, mà vì khuôn khổ thuế quốc tế không còn cho phép nó phát huy tác dụng như trước.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác lập hướng tiếp cận phù hợp với xu thế: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế quốc gia, được khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng với các khu vực kinh tế khác; Nhà nước công nhận, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản, vốn đầu tư, bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao. Thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thay đổi theo từng dự án, Nghị quyết hướng tới cạnh tranh bằng nền tảng thể chế ổn định, áp dụng nhất quán cho mọi nhà đầu tư.

Khi cấu trúc dòng vốn thay đổi

Trung Quốc là trường hợp cho phép quan sát khá rõ quá trình chuyển đổi này. Tháng 8-2023, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố kế hoạch 24 giải pháp nhằm ổn định và thu hút vốn đầu tư nước ngoài - một trong những gói chính sách toàn diện nhất của nước này trong giai đoạn gần đây, bao gồm mở rộng thí điểm các lĩnh vực viễn thông, y tế, giáo dục và dữ liệu xuyên biên giới.

Diễn biến dòng vốn cùng thời kỳ lại cho thấy một bức tranh cần quan sát kỹ. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc (MOFCOM), vốn FDI thực hiện (phản ánh lượng vốn ngoại thực tế giải ngân) năm 2023 vẫn đạt 163,3 tỷ USD, mức cao thứ ba trong lịch sử, chỉ giảm khoảng 8% so với năm trước. Nhưng theo Cục Quản lý ngoại hối nhà nước Trung Quốc (SAFE), nghĩa vụ đầu tư trực tiếp ròng (phản ánh lượng vốn ngoại thực tế chảy vào trừ đi phần vốn ngoại rút ra) trong cán cân thanh toán năm 2023 chỉ tăng 33 tỷ USD, giảm hơn 80% so với năm 2022 và là mức thấp nhất kể từ năm 1993; con số này tiếp tục giảm sâu trong năm 2024.

Hai thước đo này khác nhau về bản chất và khoảng cách lớn giữa chúng phản ánh một thay đổi về cấu trúc: Dòng vốn mới vẫn được duy trì, song các doanh nghiệp FDI đồng thời đẩy mạnh chuyển lợi nhuận tích lũy về công ty mẹ và thanh toán nợ nội bộ, trong bối cảnh chênh lệch lãi suất giữa Trung Quốc và các nền kinh tế phát triển nới rộng.

Hiện tượng này cần được nhìn từ nhiều nguyên nhân, đồng thời đà điều chỉnh cũng đã diễn ra từ trước khi gói 24 giải pháp được ban hành, nên chưa đủ cơ sở đánh giá hiệu quả gói chính sách này trong ngắn hạn. Tuy vậy, các báo cáo đầu tư toàn cầu của UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển) và khảo sát chính sách đầu tư của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) những năm gần đây ghi nhận một điểm khá thống nhất trong hành vi của nhà đầu tư dài hạn: Bên cạnh chi phí và ưu đãi, các tập đoàn có chuỗi giá trị phức tạp ngày càng coi trọng tính ổn định, nhất quán, có thể dự báo của môi trường kinh doanh. Quan sát này mang tính quy luật: Ưu đãi có thể tạo sức hút ban đầu, nhưng chất lượng thể chế mới quyết định việc dòng vốn ở lại, mở rộng và nâng cấp.

Công cụ thể chế: Danh mục công khai và cơ chế thí điểm

Ở khía cạnh khác, Trung Quốc đã tích lũy kinh nghiệm đáng quan tâm về chuyển hóa định hướng mở cửa thành công cụ chính sách rõ ràng, đo lường được. Đáng chú ý nhất là cơ chế danh mục hạn chế, cấm đầu tư nước ngoài (negative list) áp dụng thống nhất toàn quốc từ năm 2017 và thu hẹp qua các lần sửa đổi: Phiên bản 2021 còn 31 mục, phiên bản 2024 còn 29 mục, xóa bỏ hoàn toàn hạn chế trong lĩnh vực chế tạo.

Cùng với đó, một số ngành nghề được chọn thí điểm mở cửa sớm hơn mặt bằng chung trong các lĩnh vực viễn thông, y tế, giáo dục, đi kèm danh mục ngành khuyến khích đầu tư chiến lược hướng dòng vốn dài hạn vào công nghệ cao như công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, công nghệ thông tin. Điểm chung của các công cụ trên là tính công khai, đo lường được và áp dụng nhất quán.

Dĩ nhiên, việc tham chiếu cần đặt trong bối cảnh lợi thế thị trường nội địa hơn 1,4 tỷ dân của Trung Quốc mà không công cụ thể chế nào thay thế được và chính Trung Quốc cũng đã trải qua giai đoạn cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi trong các thập niên 1990-2000 trước khi chuyển dần sang các công cụ mới. Giá trị tham chiếu, vì vậy, không nằm ở việc sao chép nội dung chính sách, mà ở cách thiết kế công cụ và lộ trình chuyển đổi.

Tăng năng lực thích ứng với những chuẩn mực mới

Với tư duy mới, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác lập những nguyên tắc nền tảng phù hợp với xu hướng chung; vấn đề tiếp theo, có thể tiếp tục nghiên cứu trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành, là chuyển hóa các nguyên tắc ấy thành công cụ đo lường được, áp dụng nhất quán trên phạm vi cả nước trong không gian mà cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm toán tối cao có thể góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Hiện tượng dịch chuyển cấu trúc dòng vốn ở Trung Quốc gợi ý một thước đo cần theo dõi bên cạnh vốn đăng ký và vốn thực hiện: Tỷ lệ lợi nhuận được doanh nghiệp FDI giữ lại để tái đầu tư. Vốn đăng ký phản ánh sức hút ban đầu, còn quyết định giữ lợi nhuận ở lại mở rộng sản xuất mới là chỉ báo trực tiếp về niềm tin dài hạn của nhà đầu tư vào môi trường thể chế. Nuôi dưỡng niềm tin đó là một trong những thước đo thành công thực chất nhất của chính sách FDI thế hệ mới.

Với các chính sách hỗ trợ đầu tư thay thế ưu đãi thuế, kinh nghiệm quốc tế gợi ý ưu tiên hình thức hạ tầng và dịch vụ dùng chung thay vì hỗ trợ tài chính riêng lẻ cho từng doanh nghiệp: Cách thiết kế này vừa tương thích hơn với khuôn khổ quốc tế, vừa tạo hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước.

Trong dài hạn, chất lượng thể chế cho FDI thế hệ mới không chỉ là minh bạch, ổn định, mà còn là năng lực thích ứng với những chuẩn mực đang định hình dòng vốn toàn cầu: Tiêu chuẩn xanh, chuyển đổi số và quản trị dữ liệu xuyên biên giới.

Trong bối cảnh khuôn khổ thuế quốc tế đang trung hòa dần công cụ ưu đãi truyền thống, bài học kinh nghiệm cho thấy một logic nhất quán: Ưu đãi có thể tạo sức hút ban đầu, nhưng niềm tin vào sự ổn định, minh bạch, nhất quán của thể chế mới quyết định việc dòng vốn chất lượng cao ở lại, mở rộng và gắn kết vào nền kinh tế. Đây cũng chính là hướng đi mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đã lựa chọn cho giai đoạn phát triển mới của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Thạc sĩ Tấn Dương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tang-nang-luc-canh-tranh-quoc-gia-trong-thu-hut-dong-von-ngoai-1759489.html