Tăng tốc nâng cao năng suất, hiện thực hóa Tầm nhìn Việt Nam 2045
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu chuyển từ cách làm theo phong trào sang nâng cao năng suất thực chất, có thể đo lường; đưa các chỉ tiêu năng suất, chất lượng vào hệ thống chỉ tiêu điều hành của bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp...
Chuyển từ mở rộng nguồn lực sang nâng cao năng suất
Nâng cao năng suất không thể chỉ là một phong trào hay nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà phải trở thành nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026-2030. Đây là thông điệp nổi bật tại Diễn đàn Năng suất Chất lượng Quốc gia năm 2026, diễn ra ngày 14/8, tại TP HCM.
Diễn đàn do Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức, với chủ đề “Bứt phá năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Việt Nam tiến nhanh tới Tầm nhìn 2045”.
Phát biểu tại phiên toàn thể, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng “2 con số” bền vững và trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Trong khi đó, mô hình tăng trưởng hiện vẫn dựa nhiều vào việc mở rộng nguồn lực hơn là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Vì vậy, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị.
Theo Phó Thủ tướng, năng suất ngày nay không còn đơn thuần là làm nhanh hơn theo cách cũ, mà phải là tạo ra giá trị mới bằng công nghệ, dữ liệu và phương thức quản trị mới. Quá trình này đồng thời phải bảo đảm các yêu cầu về chất lượng và môi trường để sản phẩm được thị trường chấp nhận. Từ cách tiếp cận này, nâng cao năng suất không phải là phong trào hay việc riêng của ngành KHCN mà phải trở thành một trong những nhiệm vụ trung tâm của cả hệ thống trong giai đoạn 2026-2030.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại phiên toàn thể (Ảnh: MOST)
Một trong những yêu cầu được Phó Thủ tướng nhấn mạnh là chuyển từ làm theo phong trào sang chuyển đổi thực chất, có thể đo lường, lấy chỉ tiêu năng suất làm thước đo điều hành. Theo đó, cần nghiên cứu đưa các chỉ tiêu năng suất, chất lượng vào hệ thống chỉ tiêu điều hành của từng bộ, ngành, địa phương, tập đoàn và tổng công ty; đồng thời xây dựng phương thức đo lường, đánh giá và công bố để tạo cơ chế cải tiến năng suất liên tục.
Cùng với đó, Phó Thủ tướng cũng đặt ra định hướng là đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành nguồn tạo ra năng suất mới; trong đó chất lượng và tiêu chuẩn phải trở thành “tấm hộ chiếu” để sản phẩm Việt Nam bước vào thị trường.
Phó Thủ tướng yêu cầu chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải đi vào dây chuyền sản xuất, quy trình quản trị, thay vì chỉ dừng ở việc sử dụng các phần mềm quản lý văn phòng. Theo đó, công nghệ phải thực sự tạo ra thay đổi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nguyên vật liệu, năng lượng và vốn. Cùng với đó là nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hạ tầng chất lượng quốc gia cũng cần được hiện đại hóa, số hóa để hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Theo Phó Thủ tướng, cần huy động đồng bộ doanh nghiệp nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực công. Các tập đoàn, tổng công ty cần xây dựng chương trình năng suất riêng, có mục tiêu định lượng và lan tỏa xuống chuỗi cung ứng. Chính sách hỗ trợ cũng phải chuyển từ dàn trải sang có trọng tâm, lấy mức tăng năng suất thực tế làm thước đo thay vì số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ.
Một nhiệm vụ khác là phát triển nguồn nhân lực cho năng suất, hình thành đội ngũ chuyên gia năng suất đạt chuẩn khu vực, đưa nội dung năng suất, chất lượng, đổi mới sáng tạo vào đào tạo đại học và giáo dục nghề nghiệp, đồng thời đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số cho người lao động.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, nâng cao năng suất là một hành trình lâu dài, nhưng trong bối cảnh hiện nay Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc tăng tốc.
Đó là tăng tốc ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo; tăng tốc đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng tốc chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng; và trên hết là tăng tốc nâng cao năng suất của mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ quan và mỗi người lao động Việt Nam.
Theo Phó Thủ tướng, những ý tưởng, khuyến nghị được trao đổi tại Diễn đàn phải được chuyển hóa thành nhiệm vụ cụ thể, có địa chỉ, có thời hạn và có người chịu trách nhiệm.
Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống, sự năng động của cộng đồng doanh nghiệp và sự đồng hành của các tổ chức quốc tế, Phó Thủ tướng tin tưởng Việt Nam sẽ tạo được bước chuyển mạnh mẽ về năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh, qua đó hiện thực hóa Tầm nhìn Việt Nam 2045.
Đưa chính sách thực sự đến doanh nghiệp
Trong khuôn khổ Diễn đàn, các chuyên gia không chỉ bàn về giải pháp tạo năng suất mà còn chỉ ra những điểm nghẽn từ chính sách có thể làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
Tại Hội thảo “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thúc đẩy năng suất quốc gia”, các đại biểu tập trung phân tích bài toán thiết kế và thực thi chính sách để KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tạo năng suất mới.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, cho rằng trong giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn, lao động và khai thác tài nguyên.

Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Uỷ ban TCĐLCL Quốc gia phát biểu tại Hội thảo chuyên đề 1 (Ảnh: MOST)
Dư địa tăng trưởng bền vững phải đến từ năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực. Theo ông Nguyễn Nam Hải, tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trực tiếp của phát triển.
Vì vậy, vấn đề không chỉ là tiếp tục khẳng định vai trò của KHCN, mà quan trọng hơn là xây dựng cơ chế để tri thức, công nghệ và các nguồn lực hỗ trợ thực sự đi vào doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ. Ở góc độ quốc tế, GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo đang bước vào giai đoạn mới, trong đó AI trở thành một trong những “hạ tầng năng suất” quan trọng.

GS. TS Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore (Ảnh: MOST)
Theo ông, hoạt động R&D đang chuyển từ mô hình tài trợ các dự án riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái đổi mới; chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng hướng tới giải quyết các thách thức quốc gia.
Chính phủ cũng cần chuyển từ vai trò chủ yếu là cấp ngân sách, phê duyệt và quản lý dự án sang kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo, thông qua hạ tầng dữ liệu, hạ tầng AI, tiêu chuẩn công nghệ, sandbox, môi trường thử nghiệm thực tế, mua sắm công thúc đẩy đổi mới và nền tảng kết nối nhân tài.
Một thay đổi quan trọng, theo GS.TS. Vũ Minh Khương, là chuyển từ câu hỏi “chi bao nhiêu cho R&D?” sang “STI tạo ra bao nhiêu năng lực và giá trị?”. Theo đó, hiệu quả chính sách cần được đánh giá qua khả năng thương mại hóa công nghệ, hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp, sự hình thành và mở rộng của startup, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp và mức độ phổ cập công nghệ, trong đó có tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng AI.
Ông đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phổ cập công nghệ tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, tránh tình trạng đổi mới sáng tạo chỉ tập trung ở các tập đoàn lớn. Công nghệ phải được chuyển hóa thành kết quả thực tế, đồng thời nâng cao năng suất lao động, năng suất tài nguyên, năng lượng, vật liệu và vốn. Theo ông, chính sách nếu thiết kế không phù hợp còn có thể trở thành rào cản đối với năng suất.
Bà Võ Thị Lan Phương, chuyên gia đánh giá tác động chính sách, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam, chỉ ra 6 nhóm chính sách có nguy cơ làm giảm năng suất gồm tạo chi phí tuân thủ quá lớn, hạn chế cạnh tranh, cản trở đổi mới sáng tạo, gia tăng rủi ro, tạo “bẫy quy mô” và bảo hộ.
Những quy định thiếu rõ ràng, thay đổi thường xuyên, yêu cầu quá nhiều thủ tục, kiểm tra hoặc buộc doanh nghiệp cung cấp lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có có thể làm tăng chi phí tuân thủ, thu hẹp nguồn lực dành cho đầu tư và đổi mới.
Chính sách cũng có thể trở thành rào cản đối với công nghệ mới nếu cấm mô hình kinh doanh mới chỉ vì pháp luật chưa có quy định, buộc công nghệ mới tuân thủ quy trình được thiết kế cho công nghệ cũ hoặc không cho phép thử nghiệm có kiểm soát.
Theo bà Võ Thị Lan Phương, cần tăng cường đánh giá tác động chính sách (RIA), trong đó lượng hóa chi phí tuân thủ, đánh giá tác động dài hạn đến đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời xem xét phản ứng của doanh nghiệp trước các phương án chính sách.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông Trần Phúc Hồng, Giám đốc điều hành TMA Innovation, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghệ TMA, Phó Chủ tịch Liên minh Công nghệ số Việt Nam, cho rằng năng suất cần được đo bằng những kết quả cụ thể như doanh thu, lợi nhuận trên mỗi nhân viên, sản phẩm trên giờ lao động, tỷ lệ lỗi, mức độ tối ưu quy trình, tự động hóa, kỹ năng nhân viên và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, ông đề xuất thành lập các trung tâm ứng dụng công nghệ theo từng lĩnh vực, sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch tài sản trí tuệ, đồng thời tạo thuận lợi cho xuất nhập khẩu thiết bị phục vụ R&D và dịch vụ công nghệ.
Bốn hội thảo chuyên đề của Diễn đàn tập trung vào chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; năng suất xanh và ESG; đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Các đại biểu tập trung tìm lời giải cho những điểm nghẽn về thể chế, công nghệ, nhân lực và quản trị; cách chuyển khoa học, công nghệ, dữ liệu, AI và chuyển đổi xanh thành kết quả năng suất có thể đo lường; cũng như cơ chế phối hợp, phân bổ nguồn lực để những sáng kiến hiệu quả có thể được triển khai nhanh và nhân rộng.
AI trở thành một phần của “hạ tầng năng suất”
Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Xuân Định cho rằng khi dư địa mở rộng các yếu tố đầu vào ngày càng hạn chế, năng suất phải trở thành nguồn lực chủ yếu của tăng trưởng dài hạn.
Theo Thứ trưởng, khoa học và công nghệ tạo ra năng lực mới, đổi mới sáng tạo chuyển năng lực đó thành giá trị, còn chuyển đổi số, dữ liệu và AI nâng cao hiệu quả. Trong khi đó, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng giúp kết quả được thị trường tin cậy và chấp nhận.
Tại phiên bế mạc, Thứ trưởng Lê Xuân Định khái quát Thông điệp Năng suất Chất lượng 2026 với 5 định hướng: đặt năng suất ở vị trí trung tâm của quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng; lấy doanh nghiệp làm trung tâm và KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu, AI làm động lực trực tiếp; nâng cao đồng thời năng suất và chất lượng; đầu tư cho con người và xây dựng văn hóa năng suất; tăng cường liên kết và biến hợp tác thành hành động cụ thể.
Theo Thứ trưởng, năng suất phải trở thành thước đo kết quả của phát triển; chất lượng là nền tảng của niềm tin và khả năng tiếp cận thị trường; còn KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được chuyển hóa thành giá trị thực trong từng cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
