Tạo đột phá hạ tầng để thu hút FDI
Trong năm 2025 Việt Nam tiếp tục là điểm sáng, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới...

Tạo đột phá hạ tầng để thu hút FDI
Mở rộng không gian phát triển hiện đại
Thời gian qua, quy mô, tốc độ, hiệu quả đầu tư hạ tầng được nâng lên rõ rệt, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế-xã hội. Đến hết năm 2025, Việt Nam đã có 3.345 km tuyến chính cao tốc và 458 km nút giao và đường dẫn được đưa vào khai thác; đã hoàn chỉnh đưa vào khai thác 1.701 km đường biển và 1.584 km đường quốc lộ. Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng 1,3 lần so với năm 2020, từ 730 triệu tấn lên 930 triệu tấn. Tổng công suất các cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần so với năm 2020, từ 92,4 triệu hành khách lên 155 triệu hành khách trên năm, nhờ vậy đã góp phần giảm chi phí logistics từ 21% vào năm 2018 đến nay chỉ còn khoảng 17%, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, hệ thống sân bay, các cảng lớn, đường sắt đã và đang được tập trung đầu tư nâng cấp, hoàn thiện như đã hoàn thành nhà ga T2 Nội Bài, nhà ga T3 sân Tân Sơn Nhất; sân bay Long Thành, sân bay Gia Bình, sân bay Phú Quốc; hệ thống đường sắt quốc gia như đường sắt tốc độ cao trục Bắc-Nam, đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái; và hệ thống đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh đang tiếp tục được triển khai tích cực...
Việc đồng bộ hóa và hoàn thiện hệ thống hạ tầng kết nối đang trở thành động lực then chốt, gia tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và củng cố niềm tin cho các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rót vào Việt Nam.
Ông Kim Nyoun Ho, Hiệp hội Thương mại Hàn Quốc tại Việt Nam (KOCHAM) khẳng định, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, quá trình mở rộng đô thị và chuyển đổi số đã thu hút sự quan tâm ngày càng lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, những nỗ lực của chính quyền trong việc cải thiện hạ tầng giao thông, xây dựng đô thị thông minh và hướng tới một môi trường sống bền vững, thân thiện với môi trường đã mang lại nhiều thuận lợi và cơ hội cho các hội viên của KOCHAM.
Thực tế, trong năm 2025 Việt Nam tiếp tục là điểm sáng, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới. Vốn FDI đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Giải ngân vốn FDI năm 2025 ước đạt trên 27,6 tỷ USD (mức cao nhất trong 5 năm qua) đã đóng góp quan trọng vào xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Sang năm 2026, dòng vốn này tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực ngay từ những ngày đầu năm mới khi nhiều tỉnh, thành như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Phú Thọ… đã có thêm nhiều dự án lớn triển khai, tạo khí thế sản xuất sôi động ngay từ đầu năm.
Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, phát triển kết cấu hạ tầng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, như quy mô, chất lượng, tính đồng bộ của hệ thống, chưa tạo được sự bứt phá đồng đều giữa các vùng miền; liên kết vùng, liên kết đô thị-nông thôn, đô thị - khu công nghiệp, cảng biển, cửa khẩu còn những điểm nghẽn; quy hoạch hạ tầng mặc dù đã đi trước để định hướng cho công tác đầu tư, đôi khi vẫn còn tình trạng chạy theo giải quyết ách tắc thay vì kiến tạo không gian mới… Các hạn chế, khó khăn nêu trên cần được tháo gỡ kịp thời để không gây cản trở mục tiêu chung trong giai đoạn tới.
Hoàn thiện cơ chế “lấy hạ tầng nuôi hạ tầng”
Chia sẻ một trong những rào cản đầu tư vào hạ tầng là thủ tục hành chính, ông Trần Tuấn Phong, Trưởng Nhóm công tác Cơ sở hạ tầng của VBF dẫn chứng, để phát triển một dự án hạ tầng từ quy mô nhỏ đến lớn mất trung bình từ 8 - 12 năm, nhiều dự án kéo dài đến 15 năm hoặc không thực hiện được do không có chính sách huy động tài chính quốc tế đủ mạnh.
Do đó, Chính phủ cần xem xét rút gọn các thủ tục hành chính và quy trình phát triển dự án, giảm thời gian phát triển dự án xuống 1 - 2 năm đối với dự án quy mô nhỏ và 3 - 5 năm đối với dự án quy mô lớn hơn; có chính sách ưu tiên thực hiện các dự án gắn với khả năng và điều kiện huy động vốn rõ ràng; có cơ chế áp dụng các điều kiện đột phá cho dự án gắn với tiến độ triển khai và hoàn thành, đặc biệt là điều kiện tín dụng cho các tổ chức tài chính thường cấp tới 70 - 80% tổng vốn đầu tư dự án. Bên cạnh đó, Việt Nam đã đạt được vị thế thị trường mới, tạo điều kiện thu hút dòng vốn đáng kể từ các quỹ đầu tư toàn cầu và các nhà đầu tư tổ chức.
Cùng chung nhận định này, ông Trần Anh Đức, Luật sư Thành viên cấp cao A&O Shearman cho rằng, Chính phủ cần có quy định chi tiết để tạo ra cơ chế khuyến khích nhà đầu tư trong nước và nước ngoài rót vốn vào hạ tầng, nhất là các dự án quan trọng quốc gia. Bảo lãnh và các cam kết hỗ trợ từ Chính phủ là chìa khóa để giảm rủi ro, hạ chi phí vốn và thu hút nhà đầu tư dài hạn.
Trước thực tiễn đó, Bộ trưởng Trần Hồng Minh yêu cầu, ưu tiên phân bổ nguồn lực cho kết cấu hạ tầng trọng điểm có tính lan tỏa, liên kết vùng, tạo ra hành lang kinh tế mới cho các dự án xây dựng xanh, giao thông phát thải thấp... Chuyển hướng từ huy động sang khơi thông và nuôi dưỡng các nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng. Hoàn thiện cơ chế “lấy hạ tầng nuôi hạ tầng” thông qua việc khai thác hiệu quả các quỹ đất để tái đầu tư, phát triển các công cụ tài chính mới như trái phiếu công trình, quỹ đầu tư hạ tầng để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và các định chế tài chính quốc tế; khuyến khích đầu tư tư nhân, đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) các lĩnh vực trọng yếu như cảng biển, cảng hàng không, hạ tầng giao thông đô thị. Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia tiến tới từng bước tự chủ về công nghệ. Đẩy mạnh nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao ứng dụng và phát triển các giải pháp về công nghệ tiên tiến trong quá trình phát triển kết cấu hạ tầng. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trên mọi lĩnh vực trong kỷ nguyên mới.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tao-dot-pha-ha-tang-de-thu-hut-fdi-177157.html














