Tạo đột phá từ tư duy quản trị nhân tài
Lời tòa soạn: Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn Chuyên đề về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” do Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà trình bày, quán triệt tại Hội nghị.
Tạo đột phá từ tư duy quản trị nhân tài
Lời tòa soạn: Sáng 16/10, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn Chuyên đề về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” do Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà trình bày, quán triệt tại Hội nghị.
Kính thưa đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm!
Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam!
Thưa các đồng chí đại biểu tham dự Hội nghị ở tất cả các điểm cầu,
Theo phân công của Ban Tổ chức, tôi xin trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững. Bài trình bày gồm 3 phần: (1) Khái quát chung về công tác nhân tài thời gian qua và yêu cầu thực tiễn đặt ra; (2) Những vấn đề mới về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm; (3) Tổ chức thực hiện.
Phần thứ nhất: Khái quát chung về công tác nhân tài thời gian qua và yêu cầu thực tiễn đặt ra
Về công tác nhân tài thời gian qua, có thể khái quát trên bốn phương diện cơ bản.
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước luôn kế thừa truyền thống tôn trọng hiền tài, xác định hiền tài là nguyên khí quốc gia; quan tâm phát hiện, thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài. Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, định hướng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng người có tài năng đã được đề cập trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị, gắn với các định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trình bày Chuyên đề 5 về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Ảnh: Phạm Thắng
Thứ hai, thể chế, cơ chế, chính sách về nhân tài từng bước được hoàn thiện. Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo. Một số cơ chế, chính sách về thu hút, trọng dụng nhân tài đã được triển khai, trong đó có các chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực chất lượng cao.
Thực tiễn cũng xuất hiện nhiều kinh nghiệm tốt tại các địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và trong khu vực doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân đã chủ động xây dựng chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao. Từ năm 2017 đến nay, khu vực công đã thu hút khoảng 1.500 sinh viên xuất sắc, nhà khoa học và người có tài năng. Qua đó, đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.
Tuy nhiên, Kết luận số 105-KL/TW cũng chỉ rõ công tác nhân tài còn nhiều bất cập, hạn chế cần tập trung khắc phục. Nổi bật là nhận thức về nhân tài chưa đầy đủ, thống nhất; phương thức quản trị chưa tương xứng; cơ chế, chính sách còn phân tán, thiếu đồng bộ; thiếu sự liên thông giữa nhân tài trong khu vực công, khu vực tư, trong nước và ngoài nước; công tác phát hiện, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức; việc bố trí, sử dụng và phát huy nhân tài chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Về nguyên nhân, bên cạnh những yếu tố khách quan, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trong đó có hạn chế về nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu, tư duy và phương thức tổ chức thực hiện; chưa mạnh dạn, tin tưởng giao nhiệm vụ cho người có tài năng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải đổi mới công tác nhân tài. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, nhân tài đã trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ và vị thế quốc gia. Nhiều nước như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và các nước châu Âu đã triển khai mạnh mẽ các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, coi đây là một lợi thế chiến lược trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trình bày Chuyên đề 5 về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Ảnh: Phạm Thắng
Trong khi đó, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Để hiện thực hóa mục tiêu này, bên cạnh việc ban hành các nghị quyết chiến lược nhằm tạo đột phá trên những lĩnh vực then chốt, cần đặc biệt quan tâm phát triển đội ngũ nhân tài đủ năng lực hoạch định chính sách, làm chủ công nghệ và tổ chức thực hiện những công trình, dự án lớn của đất nước.
Đây cũng là lần đầu tiên Trung ương ban hành một kết luận chuyên đề về công tác nhân tài, qua đó khẳng định vị trí, vai trò của nhân tài trong phát huy trí tuệ, năng lực sáng tạo và sức cống hiến, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Phần thứ hai: Những vấn đề mới về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Kết luận số 105-KL/TW xác lập các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Về quan điểm, Kết luận xác định năm quan điểm cơ bản.
Một là, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, có vai trò dẫn dắt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược của đất nước.
Hai là, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các chương trình, dự án và nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Quan điểm này nhằm tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, bảo đảm chính sách nhân tài phục vụ trực tiếp các mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn.
Ba là, đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài, chuyển từ quản lý theo tổ chức, biên chế sang quản trị và phát triển nhân tài; lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo. Trên cơ sở nhiệm vụ cụ thể, cần tìm đúng người, giao quyền và nguồn lực tương xứng, đồng thời đánh giá bằng giá trị thực tế mà nhân tài tạo ra cho đất nước, tổ chức và doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trình bày Chuyên đề 5. Ảnh: Phạm Thắng
Bốn là, công tác nhân tài đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và toàn xã hội.
Năm là, xây dựng hệ sinh thái nhân tài quốc gia hiện đại, mở và hội nhập quốc tế, bảo đảm sự liên kết, lưu chuyển, chia sẻ nguồn nhân lực giữa khu vực công với khu vực tư, giữa trong nước với quốc tế. Nhân tài, dù làm việc ở đâu, nếu có thể tạo ra giá trị và đóng góp cho đất nước thì đều cần được tạo điều kiện phát huy năng lực, cống hiến.
Về mục tiêu, Kết luận xác định ba mục tiêu tổng quát: xây dựng hệ thống quản trị nhân tài hiện đại, thống nhất, hiệu quả và có sức cạnh tranh quốc tế; hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao, đủ mạnh, có cơ cấu hợp lý trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, có khả năng dẫn dắt và giải quyết những bài toán lớn của quốc gia; xây dựng Việt Nam trở thành môi trường hấp dẫn, nơi nhân tài được tôn trọng, tin tưởng và phát huy tối đa năng lực, sức sáng tạo.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Đến năm 2030, phấn đấu hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách về nhân tài; thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia trong cả khu vực công và khu vực tư; vận hành đồng bộ hạ tầng số quốc gia về nhân tài; hình thành hệ sinh thái nhân tài quốc gia mở, thông minh và hội nhập; đồng thời phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài.
Đến năm 2045, Việt Nam chủ động bảo đảm nguồn nhân lực, nhân tài và phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu. Đây là mục tiêu có tính thách thức, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao và các giải pháp đồng bộ, thiết thực, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Về sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và thống nhất hành động của cả hệ thống chính trị về công tác nhân tài.
Cần thống nhất cách nhận diện nhân tài trên cơ sở phẩm chất, tố chất, năng lực nổi trội, tư duy sáng tạo, sản phẩm, thành tích hoặc đóng góp đặc biệt có tính đột phá, tạo ra giá trị và tác động tích cực; có khả năng giải quyết hiệu quả những nhiệm vụ quan trọng, mới, khó và phức tạp.
Việc nhận diện cần có nguyên tắc chung nhưng linh hoạt theo từng giai đoạn, ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp. Đồng thời, phải xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và người đứng đầu trong phát hiện, tiến cử, lựa chọn, trọng dụng, tạo điều kiện để nhân tài phát huy năng lực. Bản thân người tài cũng phải có trách nhiệm tự rèn luyện, giữ gìn uy tín nghề nghiệp và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến.
Đặc biệt, doanh nghiệp được xác định là một chủ thể quan trọng trong phát hiện, tiến cử, thu hút và trọng dụng nhân tài, không chỉ trong khu vực công mà trên phạm vi toàn bộ hệ sinh thái nhân tài quốc gia.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và tập trung nguồn lực thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn.
Cần rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và hệ thống pháp luật nhằm tháo gỡ những rào cản, điểm nghẽn trong thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài. Đồng thời, xây dựng khung tiêu chí quốc gia về nhân tài, cập nhật danh mục các ngành, lĩnh vực chiến lược, mũi nhọn cần ưu tiên.
Chính sách cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, bao gồm thu nhập, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh và phúc lợi xã hội cho nhân tài cùng thân nhân. Cùng với đó, cần bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài, dự kiến khoảng 0,1% tổng nguồn dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm.
Về công cụ quản trị, cần xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống chỉ số quốc gia, cổng thông tin và nền tảng số phục vụ quản trị nhân tài trong các cơ quan, đơn vị và cộng đồng doanh nghiệp.
Thứ ba, đổi mới phương thức phát hiện, lựa chọn, trọng dụng và đánh giá nhân tài theo nhiệm vụ, kết quả.
Việc phát hiện, tiến cử nhân tài cần được thực hiện từ nhiều nguồn, cả trong nước và ngoài nước, không phân biệt khu vực công hay khu vực tư, không bị giới hạn bởi chỉ tiêu biên chế của các cơ quan, đơn vị trong khu vực công.
Cần lựa chọn đúng người, đúng việc, đúng sở trường; giao nhiệm vụ xứng tầm, trao thẩm quyền thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình. Việc đánh giá phải căn cứ vào chất lượng sản phẩm, kết quả và giá trị do nhân tài tạo ra.
Đây là sự đổi mới căn bản trong tư duy quản trị, coi phát hiện đúng là tiền đề, trọng dụng hiệu quả là khâu then chốt và đánh giá thực chất giá trị cống hiến là động lực để nhân tài phát huy năng lực.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Thứ tư, chủ động tạo nguồn và phát triển nhân tài quốc gia.
Cần xây dựng chương trình tạo nguồn theo từng nhóm ngành, lĩnh vực và giai đoạn; phát hiện sớm, lựa chọn, đào tạo tài năng, đồng thời theo dõi, hỗ trợ quá trình phát triển lâu dài.
Cùng với đó, cần trao quyền tự chủ cao hơn cho hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và viện nghiên cứu, gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát chất lượng và bảo đảm liêm chính học thuật. Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng cơ chế để nhân tài dẫn dắt nhân tài, được lựa chọn cộng sự và phát triển đội ngũ kế cận.
Trọng tâm của nhóm giải pháp này là hình thành quá trình phát triển liên tục, từ phát hiện, ươm mầm tài năng đến đào tạo, giao nhiệm vụ và trưởng thành qua thực tiễn. Giáo dục và đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong tạo nguồn, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho quốc gia.
Thứ năm, xây dựng văn hóa trọng dụng nhân tài, tạo lập môi trường và điều kiện để nhân tài phát huy năng lực, cống hiến, tạo giá trị.
Cần xây dựng văn hóa trọng dụng người thực tài, khắc phục tâm lý đố kỵ, cô lập, e ngại người giỏi, người tài. Đồng thời, mở rộng quyền tự chủ trong chuyên môn, tạo điều kiện để nhân tài khởi nghiệp, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Môi trường làm việc phải thực sự khuyến khích sáng tạo, tôn trọng năng lực, tạo điều kiện để người tài phát huy sở trường, chủ động thực hiện nhiệm vụ và đóng góp hiệu quả cho tổ chức, doanh nghiệp và đất nước.
Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về nhân tài, nhất là trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn.
Hợp tác quốc tế cần gắn với nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ công nghệ. Cần thu hút người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo, cố vấn, chủ trì hoặc đồng chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược tại Việt Nam.
Đồng thời, phát triển mạng lưới nhân tài Việt Nam theo ngành, lĩnh vực ở trong nước và xuyên quốc gia. Hiệu quả hợp tác phải được thể hiện bằng việc tri thức được chuyển giao, công nghệ được làm chủ và năng lực của đội ngũ trong nước được nâng lên.
Xuyên suốt sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp là sự đổi mới căn bản về tư duy và phương thức quản trị nhân tài. Nhiệm vụ chiến lược là định hướng; phẩm chất, năng lực, sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến là thước đo; trọng dụng là khâu then chốt, còn tạo nguồn là nhiệm vụ căn bản, lâu dài. Quyền tự chủ, nguồn lực và điều kiện làm việc của cơ quan sử dụng nhân tài phải đi đôi với trách nhiệm; đồng thời, mỗi cá nhân cần có năng lực, phẩm chất, uy tín và khát vọng cống hiến.
Chính sách không chỉ đặt ra yêu cầu Nhà nước và doanh nghiệp phải làm gì cho nhân tài, mà còn phải trả lời được câu hỏi nhân tài có thể cống hiến gì cho đất nước.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Phần thứ ba: Về tổ chức thực hiện
Kết luận đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tỉnh ủy, thành ủy, các đảng ủy trực thuộc, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan liên quan.
Bộ Chính trị đã ban hành chương trình hành động với 30 nhiệm vụ, giao 14 cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện. Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu khẩn trương xây dựng, ban hành kế hoạch triển khai Kết luận số 105-KL/TW và chương trình hành động của Bộ Chính trị, tập trung cao độ để bảo đảm việc thực hiện đạt hiệu quả.
Trong dòng chảy không ngừng của thời đại, nhân tài luôn được xác định là nguồn lực chiến lược, yếu tố then chốt quyết định sự thịnh vượng của quốc gia. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”.
Tiếp nối tư tưởng đó, mỗi cấp ủy, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người đứng đầu phải chủ động phát hiện nhân tài, có bản lĩnh giao trọng trách và bảo đảm điều kiện để họ phát huy năng lực. Mỗi người tài, dù ở trong nước hay ngoài nước, cần phát huy trí tuệ, tài năng, khát vọng và sức sáng tạo để đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam, vì một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Tôi tin tưởng rằng, với quyết tâm cao và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chúng ta sẽ thu hút, trọng dụng nhân tài hiệu quả, thực hiện thắng lợi các mục tiêu theo tinh thần Kết luận số 105-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương.
Kính chúc đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và toàn thể các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công!
