Tạo dựng hệ thống ngân hàng đủ mạnh trong giai đoạn mới

Gần 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình vận hành theo cơ chế bao cấp, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững được đặt ra, vai trò của hệ thống ngân hàng không chỉ dừng ở đảm bảo cung ứng vốn mà đang từng bước chuyển sang định hướng và dẫn dắt dòng chảy vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của đất nước.

Từ hành trình đổi mới đến nâng tầm vị thế

Năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình đổi mới của nền kinh tế Việt Nam, khi đất nước chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng đứng trước yêu cầu phải tái cấu trúc toàn diện để thích ứng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Một dấu mốc có ý nghĩa nền tảng là việc chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, chính thức được xác lập từ năm 1988 theo Nghị định số 53-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng khi đó. Theo mô hình mới, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, trong khi các ngân hàng chuyên doanh đảm nhiệm hoạt động kinh doanh tiền tệ. Đây là bước chuyển mình quan trọng, tạo tiền đề hình thành hệ thống ngân hàng vận hành theo cơ chế thị trường. Cùng với quá trình đó, các NHTM Nhà nước chủ lực lần lượt được hình thành gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank đóng vai trò chủ lực trong cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Bước chuyển về thể chế tiếp tục được khẳng định với việc ban hành hai Pháp lệnh ngân hàng vào năm 1990, lần đầu tiên xác lập rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng cấp trong hệ thống. Theo đó, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và ngoại hối, đồng thời giữ vai trò ngân hàng trung ương, là ngân hàng phát hành tiền và ngân hàng của các ngân hàng; còn hoạt động kinh doanh tiền tệ được giao cho các NHTM và TCTD. Trên nền tảng này, hệ thống ngân hàng Việt Nam từng bước được định hình và phát triển theo hướng đa dạng về loại hình, với sự tham gia của NHTM Nhà nước, NHTMCP, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính… tạo nên một hệ sinh thái tài chính ngày càng đầy đủ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Khuôn khổ pháp lý của hệ thống ngân hàng không ngừng được hoàn thiện, gắn với yêu cầu phát triển và bảo đảm an toàn hệ thống. Từ cơ sở được thiết lập với Luật NHNN và Luật Các TCTD được thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa X (tháng 12/1997), sau đó được sửa đổi, bổ sung qua các giai đoạn, nền tảng pháp lý cho hoạt động ngân hàng từng bước được củng cố, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả điều hành và tiệm cận với thông lệ quốc tế. Việc liên tục rà soát, sửa đổi và bổ sung pháp luật cho thấy quá trình hoàn thiện thể chế không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, mà còn hướng tới nâng cao an toàn hệ thống, tăng cường kỷ luật thị trường và tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Đây cũng là nền tảng quan trọng để hệ thống ngân hàng vận hành ổn định và nâng cao vai trò trong nền kinh tế.

Từ nền móng thể chế đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chiều sâu. Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh khẳng định, sau gần 40 năm đổi mới, ngành Ngân hàng đã có bước phát triển vượt bậc, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần cùng Chính phủ và cả hệ thống chính trị vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Tính đến ngày 31/12/2025, hệ thống ngân hàng có 127 TCTD, với tổng tài sản đạt gần 28,9 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với cuối năm 2024, tương đương mức tăng gần 2.000 lần so với thời điểm đầu đổi mới. Huy động vốn tăng 15,42% so với cuối năm 2024, quy mô tăng gấp gần 1.300 lần trong gần 40 năm qua. Đáng chú ý, nhiều ngân hàng Việt Nam đã vươn lên đạt quy mô lớn, từng bước nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.

Theo bảng xếp hạng Brand Finance Banking 500 năm 2026, Việt Nam có tới 13 ngân hàng lọt vào Top 500 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới cho thấy sự cải thiện rõ rệt về năng lực cạnh tranh và giá trị thương hiệu. Nổi bật là Vietcombank khi được xếp hạng thứ 3 toàn cầu về sức mạnh thương hiệu, với chỉ số BSI đạt 95,3/100 (mức AAA+), thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Bên cạnh đó, các ngân hàng như BIDV, VietinBank, Agribank, MB, Techcombank, VPBank… cũng ghi nhận sự hiện diện ngày càng rõ nét trên các bảng xếp hạng quốc tế.

Ở góc độ tín nhiệm, nhiều tổ chức xếp hạng quốc tế như Moody’s tiếp tục nâng bậc đánh giá đối với các ngân hàng Việt Nam. Trong đó, Vietcombank duy trì mức xếp hạng cao nhất hệ thống, trong khi BIDV, VietinBank và Agribank được nâng hạng ngang trần tín nhiệm quốc gia. Một số NHTMCP như Techcombank, VPBank hay nhóm ngân hàng tầm trung cũng được cải thiện xếp hạng nhờ nâng cao chất lượng tài sản, năng lực vốn và quản trị rủi ro. Những kết quả này cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam không chỉ mở rộng về quy mô mà còn từng bước nâng cao chất lượng hoạt động và uy tín trên thị trường quốc tế, tạo nền tảng để tham gia sâu hơn vào hệ thống tài chính toàn cầu.

Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN ngày càng khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô. Đặc biệt, trước những “cơn gió ngược” từ bên ngoài, NHNN đã chủ động, linh hoạt trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, bám sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước, góp phần kiểm soát lạm phát phù hợp với mục tiêu đề ra, củng cố nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Năm 2023 là một phép thử rõ nét đối với điều hành chính sách tiền tệ khi nền kinh tế chịu tác động đồng thời từ lạm phát toàn cầu, chính sách tiền tệ thắt chặt và biến động mạnh của đồng USD. Trước bối cảnh đó, NHNN đã chủ động chuyển trạng thái điều hành theo hướng linh hoạt hơn, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để hỗ trợ nền kinh tế; đồng thời sử dụng hiệu quả các công cụ thị trường mở, tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Việc 4 lần giảm lãi suất điều hành trong năm đã góp phần kéo giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ phục hồi sản xuất - kinh doanh, trong khi tỷ giá vẫn được giữ ổn định, đồng VND chỉ mất giá khoảng 2,9% - là một trong những đồng tiền ổn định nhất không chỉ trong khu vực mà còn trên thế giới.

Nâng cao vai trò trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững hơn, việc xây dựng một hệ thống ngân hàng đủ sức dẫn dắt nền kinh tế là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, để thực hiện được vai trò đó, điều kiện tiên quyết là hệ thống ngân hàng phải có nền tảng tài chính đủ mạnh, vừa bảo đảm an toàn hoạt động, vừa có dư địa mở rộng tín dụng và định hướng dòng vốn trong nền kinh tế. Theo định hướng của NHNN, hệ thống các TCTD cần tiếp tục củng cố vốn tự có, nâng cao hệ số an toàn vốn (CAR) và từng bước tiệm cận các chuẩn mực Basel cao hơn cùng với yêu cầu nâng cao chất lượng tài sản và trích lập dự phòng đầy đủ đều đòi hỏi nền tảng vốn vững chắc hơn. Đặc biệt, tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về nâng cao vai trò của khu vực kinh tế nhà nước đặt ra mục tiêu cụ thể phấn đấu có ít nhất 3 NHTM Nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản. Đồng thời xác định 4 NHTM Nhà nước là lực lượng chủ lực, đi đầu về công nghệ, năng lực quản trị, giữ vai trò chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống.

Theo ước tính của KB Research, để 3 NHTM Nhà nước lọt vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á trong lộ trình 5 năm, cần duy trì tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân khoảng 13 - 17%/năm, tương đương giai đoạn 2020 - 2025. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao này sẽ tạo áp lực đáng kể lên hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng.

Yêu cầu tăng vốn vì thế ngày càng trở nên cấp thiết, nhất là khi tăng trưởng tín dụng trong nhiều năm qua thường cao hơn tốc độ huy động vốn. Khi quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng, nếu vốn tự có không được củng cố tương ứng, rủi ro hệ thống sẽ gia tăng. Ngược lại, khi nền tảng tài chính được tăng cường, các ngân hàng sẽ có thêm “bộ đệm” để ứng phó với biến động thị trường, bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời duy trì vai trò là kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

Trước yêu cầu từ thực tiễn cũng như chủ trương lớn đó, ông Tô Huy Vũ - đại biểu Quốc hội khóa XIV, Chủ tịch HĐTV Agribank đề nghị bổ sung 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ cho ngân hàng này trong giai đoạn 2025 - 2027, đồng thời kiến nghị cơ chế bổ sung vốn từ lợi nhuận hàng năm nhằm tạo dư địa mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên. “Chỉ khi có nền tảng vốn đủ mạnh, Agribank mới có thể thực sự đóng vai trò trụ cột của kinh tế nhà nước theo đúng nghĩa dẫn dắt, kiến tạo và lan tỏa giá trị cho toàn nền kinh tế”, ông Vũ nhấn mạnh. Tương tự, ông Trần Minh Bình - Chủ tịch HĐQT VietinBank cũng đề xuất được giữ lại toàn bộ lợi nhuận sau thuế và sau trích quỹ trong giai đoạn 2025 - 2030 để ngân hàng tăng cường vốn tự có, đáp ứng yêu cầu về an toàn vốn và bảo đảm tăng trưởng bền vững.

Ở góc nhìn chuyên gia, TS. Lê Xuân Nghĩa, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ cho rằng cần có cơ chế rõ ràng cho phép các NHTM Nhà nước giữ lại một phần lợi nhuận hàng năm để bổ sung vốn điều lệ trong một chu kỳ nhất định, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cấp từ ngân sách. Theo ông Nghĩa, cơ chế này không chỉ tạo động lực nâng cao hiệu quả hoạt động, mà còn giúp chủ động hơn trong việc củng cố năng lực tài chính. Khi nền tảng vốn được tăng cường, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng tín dụng vào các lĩnh vực như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết 79.

Bên cạnh việc tiếp tục củng cố nội lực, xu hướng mở rộng không gian hoạt động ra thị trường quốc tế thông qua các Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) đang mở ra một hướng đi mới cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Việc các ngân hàng lớn như Vietcombank, VietinBank cùng một số NHTMCP chủ động nghiên cứu thành lập ngân hàng con hoặc pháp nhân tại IFC cho thấy bước chuyển từ cung ứng vốn trong nước sang kết nối dòng vốn quốc tế, từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường tài chính toàn cầu.

Nếu được thiết kế và vận hành hiệu quả, IFC sẽ trở thành bệ phóng để hệ thống ngân hàng Việt Nam vươn ra khu vực và quốc tế. Đồng thời, sự phát triển của IFC tại TP. Hồ Chí Minh sẽ góp phần tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn, mở rộng kênh huy động vốn và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế. Trong hệ sinh thái đó, ngân hàng không chỉ cung ứng vốn mà còn đóng vai trò kết nối các dòng vốn và cơ hội đầu tư, trở thành “hạ tầng mềm” của hệ thống tài chính.

Chính những chuyển động đó đang mở rộng không gian phát triển và nâng tầm vai trò của hệ thống ngân hàng. Từ nền tảng đã được tạo dựng, hệ thống ngân hàng Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới không chỉ cung ứng vốn, mà hướng tới khẳng định vai trò trung tâm trong hệ thống tài chính quốc gia, dẫn dắt dòng vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Song để vai trò này được phát huy đầy đủ hơn, việc hoàn thiện thể chế, phát triển thị trường vốn và cải thiện môi trường kinh doanh sẽ tiếp tục là những yếu tố quan trọng, giúp giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng trong cung ứng vốn trung và dài hạn; đồng thời khơi thông các nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng bền vững và bứt phá trong giai đoạn 2026 - 2030.

Nguyễn Vũ

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tao-dung-he-thong-ngan-hang-du-manh-trong-giai-doan-moi-183017.html