Tạo thêm động lực và thể chế, đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới
Chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp mà còn góp phần tạo thêm động lực chính trị và thể chế, đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc bước vào một giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất, bền vững hơn.

Tiến sĩ Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, trí thức Việt Nam-Hàn Quốc. (Ảnh: Tiến sĩ Trần Hải Linh cung cấp)
Đó là nhận định của Tiến sĩ Trần Hải Linh - Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam-Hàn Quốc (VKEIA) trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về ý nghĩa chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Đại Hàn Dân Quốc Cho Jeong Sik.
Phóng viên: Từ ngày 6-9/9, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sẽ có chuyến thăm chính thức Hàn Quốc, vậy theo ông, chuyến thăm này có ý nghĩa như thế nào đối với quan hệ song phương Việt Nam-Hàn Quốc, đặc biệt trong quan hệ hợp tác nghị viện giữa hai nước?
Tiến sĩ Trần Hải Linh: Theo tôi, chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam từ ngày 6-9/9 có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp mà còn góp phần tạo thêm động lực chính trị và thể chế để đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc bước vào một giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất và bền vững hơn.
Trước hết, chuyến thăm tiếp tục khẳng định mức độ tin cậy chính trị cao và sự coi trọng lẫn nhau giữa hai nước. Quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc hiện đã có nền tảng rất rộng lớn: Hàn Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn lũy kế khoảng 101 tỷ USD tính đến tháng 5/2026; thương mại song phương đạt khoảng 89 tỷ USD năm 2025; giao lưu nhân dân ngày càng sâu rộng với hơn 350 nghìn công dân Việt Nam đang sinh sống tại Hàn Quốc và hơn 200 nghìn công dân Hàn Quốc tại Việt Nam.
Nhưng tôi cho rằng điều quan trọng hơn những con số chính là chiều sâu của niềm tin. Một quan hệ chiến lược muốn đi xa không thể chỉ dựa vào thương mại và đầu tư mà phải được nâng đỡ bởi lòng tin chính trị, sự đồng hành về thể chế và sự gắn bó giữa nhân dân hai nước. Chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn vì vậy góp phần củng cố thêm một trụ cột rất quan trọng của quan hệ song phương, đó là ngoại giao nghị viện.
Đặc biệt, quan hệ giữa Quốc hội Việt Nam và Quốc hội Hàn Quốc những năm gần đây đã trở thành một điểm sáng. Hai bên không chỉ duy trì trao đổi đoàn cấp cao mà còn thúc đẩy hợp tác giữa các ủy ban chuyên môn, Nhóm Nghị sĩ hữu nghị, nghị sĩ trẻ, nữ nghị sĩ; tăng cường chia sẻ kinh nghiệm lập pháp và phối hợp tại các diễn đàn nghị viện đa phương. Hai Quốc hội cũng đã ký Bản ghi nhớ hợp tác mới, trong đó xác định việc tăng cường trao đổi và hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp là yếu tố quan trọng để làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.
Tôi đặc biệt kỳ vọng chuyến thăm lần này sẽ tiếp tục nâng hợp tác nghị viện từ “trao đổi và hữu nghị” sang “đồng hành và kiến tạo”. Quốc hội hai nước có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo dựng hành lang pháp lý thuận lợi, đồng thời giám sát và thúc đẩy triển khai các thỏa thuận cấp cao giữa hai Chính phủ.
Điều này càng có ý nghĩa khi hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc đang chuyển sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, năng lượng sạch, công nghệ sinh học, hạ tầng thông minh và các chuỗi cung ứng chiến lược.
Đây cũng là những lĩnh vực đã được lãnh đạo hai nước xác định là những hướng hợp tác trọng tâm trong giai đoạn mới. Nói cách khác, quan hệ chính trị mở đường, Quốc hội kiến tạo thể chế, Chính phủ tổ chức thực hiện, doanh nghiệp biến cơ hội thành dự án và nhân dân hai nước là những người cuối cùng được thụ hưởng thành quả của hợp tác. Tôi cho rằng đó cũng chính là tinh thần cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới của quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc.

Tiến sĩ Trần Hải Linh và đồng chí Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong chuyến thăm và làm việc tại Quốc hội Hàn Quốc năm 2019. (Ảnh: Tiến sĩ Trần Hải Linh cung cấp)
Từ góc độ một người Việt Nam sinh sống và hoạt động nhiều năm tại Hàn Quốc, tôi còn kỳ vọng chuyến thăm sẽ tiếp tục đặt con người và giao lưu nhân dân vào vị trí trung tâm của quan hệ hai nước.
Cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc ngày càng lớn mạnh, gồm người lao động, du học sinh, doanh nhân, chuyên gia, trí thức, các gia đình đa văn hóa và thế hệ trẻ Việt-Hàn.
Trong cuộc hội kiến Tổng thống Lee Jae Myung vào tháng 4/2026, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng đã đề nghị phía Hàn Quốc tiếp tục quan tâm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng người Việt Nam; phía Hàn Quốc đánh giá cao những đóng góp của cộng đồng này.
Đối với chúng tôi, kiều bào không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả của quan hệ Việt-Hàn, mà cần ngày càng trở thành một chủ thể tích cực của quan hệ ấy: là cầu nối về kinh tế, tri thức, khoa học-công nghệ, văn hóa và đối ngoại nhân dân.
Tôi cũng cho rằng, chuyến thăm mang một ý nghĩa đặc biệt khi Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn là một nhà lãnh đạo từng có nhiều năm gắn bó với công tác Mặt trận. Vì vậy, bên cạnh chiều sâu của ngoại giao Nhà nước và ngoại giao Nghị viện, chúng tôi kỳ vọng chuyến thăm tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ tinh thần Đại đoàn kết, ngoại giao nhân dân và lấy lợi ích thiết thực của nhân dân làm một trong những thước đo của hiệu quả hợp tác.
Tôi tin rằng, chuyến thăm sẽ tạo thêm một dấu mốc mới cho quan hệ giữa Quốc hội hai nước và đóng góp vào tổng thể quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc. Điều chúng ta hướng tới không chỉ là có thêm những cuộc gặp hay những thỏa thuận mới, mà quan trọng hơn là biến sự tin cậy chính trị thành những hành động cụ thể; biến những cam kết thành chương trình, dự án; biến tiềm năng thành giá trị phát triển và biến tình hữu nghị giữa hai dân tộc thành những lợi ích ngày càng thiết thực cho nhân dân hai nước.
Đó cũng chính là nền tảng để Việt Nam và Hàn Quốc không chỉ là những đối tác quan trọng của nhau hôm nay, mà thực sự trở thành những người bạn tin cậy, những đối tác cùng kiến tạo và cùng phát triển trong tương lai.
Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về quan hệ song phương Việt Nam-Hàn Quốc trong thời gian qua, đặc biệt là trong một số lĩnh vực trụ cột trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Hàn Quốc?
Tiến sĩ Trần Hải Linh: Theo tôi, nếu nhìn lại chặng đường hơn ba thập niên kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992, có thể khẳng định quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc là một trong những mối quan hệ song phương có tốc độ phát triển nhanh, phạm vi hợp tác rộng và mức độ gắn kết sâu sắc.
Đặc biệt, kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2022, hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc đang có một bước chuyển rất đáng chú ý. Từ mở rộng về quy mô sang nâng cao chất lượng; từ quan hệ chủ yếu dựa trên thương mại, đầu tư sang hợp tác ngày càng toàn diện về chính trị, ngoại giao, quốc phòng-an ninh, khoa học-công nghệ, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân.
Tôi cho rằng có thể nhìn nhận quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc hiện nay qua một số trụ cột nổi bật như sau:
Trước hết là sự tin cậy chính trị ngày càng được củng cố. Trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao giữa hai nước diễn ra thường xuyên, đặc biệt là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Hàn Quốc của Tổng Bí thư Tô Lâm tháng 8/2025 và chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung tháng 4/2026. Hai bên tiếp tục khẳng định quyết tâm làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, đồng thời duy trì các cơ chế đối thoại, hợp tác giữa Chính phủ, Quốc hội, các bộ, ngành và địa phương.
Theo tôi, đây là nền tảng quan trọng nhất. Bởi thương mại có thể chịu tác động của chu kỳ kinh tế, đầu tư có thể biến động theo thị trường, nhưng niềm tin chính trị và sự hiểu biết lẫn nhau chính là “tài sản chiến lược” giúp quan hệ hai nước có khả năng phát triển lâu dài và vượt qua những biến động của môi trường quốc tế.
Trụ cột thứ hai là kinh tế, thương mại và đầu tư, có thể coi là một trong những động lực mạnh nhất của quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt khoảng 89,5 tỷ USD. Đáng chú ý, chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đã đạt gần 70 tỷ USD, tăng khoảng 41% so với cùng kỳ năm trước; đến cuối tháng 6/2026, tổng vốn đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam đạt khoảng 102,4 tỷ USD. Hai nước đang hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 150 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng và bền vững hơn.
Tuy nhiên, theo tôi điều Việt Nam cần trong giai đoạn phát triển mới không chỉ là nhiều vốn FDI hơn, mà là FDI chất lượng cao hơn; chuyển giao công nghệ nhiều hơn; doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng; tỷ lệ nội địa hóa cao hơn; và hình thành nhiều hơn những liên doanh Việt-Hàn cùng nghiên cứu, sản xuất và tiến ra thị trường toàn cầu.
Trụ cột thứ ba mà tôi đặc biệt kỳ vọng chính là khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nếu giai đoạn trước, những biểu tượng nổi bật của hợp tác Việt-Hàn là điện tử, công nghiệp chế tạo, dệt may, xây dựng hay thương mại, thì trong 10-20 năm tới, những từ khóa mới sẽ phải là bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, năng lượng sạch, công nghệ sinh học, đô thị thông minh và các chuỗi cung ứng chiến lược.
Tuyên bố chung Việt Nam-Hàn Quốc đã xác định rõ việc khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp công nghệ cao, AI, bán dẫn, cơ sở hạ tầng, năng lượng tái tạo, đô thị thông minh và chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là lĩnh vực mà hai nước có tính bổ trợ rất lớn. Hàn Quốc có thế mạnh về công nghệ, công nghiệp, quản trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; Việt Nam có một nền kinh tế năng động, lực lượng lao động trẻ, thị trường lớn, vị trí chiến lược trong ASEAN và đang đặt khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Nếu kết nối được hai lợi thế này, quan hệ Việt-Hàn hoàn toàn có thể chuyển từ “đối tác thương mại-đầu tư” thành “đối tác công nghệ và cùng kiến tạo tương lai”.
Trụ cột thứ tư là hợp tác phát triển, hạ tầng và năng lượng. Hàn Quốc đã và đang là một đối tác phát triển quan trọng của Việt Nam. Hai bên đã thống nhất tiếp tục triển khai các khuôn khổ EDCF và EDPF, mỗi quỹ có quy mô 2 tỷ USD đến năm 2030, đồng thời hướng tới những dự án quy mô lớn trong chuyển đổi năng lượng, môi trường, y tế, hạ tầng xanh và giao thông.
Theo tôi, đây cũng là lĩnh vực cần được nâng lên một tầm cao mới. Việt Nam đang có nhu cầu rất lớn về hạ tầng chiến lược, năng lượng và đô thị thông minh, trong khi Hàn Quốc có những tập đoàn sở hữu kinh nghiệm và năng lực công nghệ mạnh. Nếu xây dựng được các mô hình hợp tác dài hạn, đây sẽ là một không gian rất lớn để hai nước cùng tạo ra giá trị.
Một trụ cột khác hết sức đặc biệt là văn hóa, giáo dục và giao lưu nhân dân. Theo tôi, quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc có một lợi thế mà không phải mối quan hệ song phương nào cũng có, đó là “độ sâu xã hội”. Quan hệ hai nước không chỉ tồn tại giữa hai Chính phủ hay các tập đoàn lớn mà đã đi vào đời sống của hàng trăm nghìn gia đình, người lao động, sinh viên, doanh nhân, trí thức và thế hệ trẻ hai nước. Chính sự gần gũi về văn hóa, sự phát triển của các gia đình đa văn hóa Việt-Hàn, sự hiện diện ngày càng lớn của cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và cộng đồng Hàn Quốc tại Việt Nam đã hình thành một nền tảng xã hội rất đặc biệt cho quan hệ song phương.
Từ góc độ một kiều bào và một người tham gia công tác Mặt trận, tôi cho rằng đây chính là một dạng “sức mạnh mềm” rất quý giá mà hai nước cần tiếp tục vun đắp.
Nhìn tổng thể, tôi đánh giá quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc đang đứng trước một thời điểm rất thuận lợi để thực hiện một bước chuyển quan trọng: từ phát triển nhanh sang phát triển sâu; từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng; từ quan hệ kinh tế bổ trợ lẫn nhau sang quan hệ cùng nghiên cứu, cùng sản xuất, cùng đổi mới sáng tạo và cùng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tôi rất đồng tình với cách tiếp cận đang được lãnh đạo hai nước nhấn mạnh: cần đưa hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc từ quan hệ đối tác kinh tế-đầu tư tiến tới “đối tác cùng kiến tạo tương lai”.
Phóng viên: Trong định hướng phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, hợp tác khoa học-công nghệ là một trong lĩnh vực trụ cột được ưu tiên trong quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam với các nước, vậy theo ông, với Hàn Quốc, Việt Nam phải làm gì để thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh hiện nay?
Tiến sĩ Trần Hải Linh: Theo tôi, đây là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhất đối với quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc trong giai đoạn tới. Nếu trước đây thương mại và đầu tư là động lực quan trọng đưa hai nước đến gần nhau, thì trong kỷ nguyên mới, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực đưa hai nước cùng tiến lên một nấc thang phát triển cao hơn.
Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với định hướng lớn của Việt Nam hiện nay. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường hợp tác nghiên cứu với những quốc gia có trình độ khoa học-công nghệ phát triển, nhất là trong AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến lược khác.
Đáng chú ý, tháng 8/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Chiến lược hợp tác quốc tế về công nghệ chiến lược, hướng tới nâng cao khả năng tiếp cận, phát triển và từng bước làm chủ công nghệ của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng Hàn Quốc phải được xác định là một trong những đối tác chiến lược hàng đầu của Việt Nam về khoa học-công nghệ. Bởi Hàn Quốc không chỉ là một nền kinh tế phát triển mà còn là một quốc gia đã thành công trong việc chuyển đổi từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ, từ một nền kinh tế dựa nhiều vào sản xuất trở thành một cường quốc về công nghiệp, bán dẫn, điện tử, AI, công nghệ số và đổi mới sáng tạo.
Quan trọng hơn, hai nước đã có nền tảng tin cậy chính trị rất tốt, quan hệ kinh tế có độ gắn kết cao và một hệ sinh thái doanh nghiệp Hàn Quốc rất lớn đang hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề hiện nay là phải chuyển lợi thế đó thành năng lực khoa học-công nghệ thực sự của Việt Nam.
Theo tôi, trước hết, chúng ta cần chuyển tư duy hợp tác từ “thu hút đầu tư có công nghệ” sang “hợp tác để cùng nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ”. Trong hơn ba thập niên qua, các tập đoàn Hàn Quốc đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam, đặc biệt trong điện tử và công nghiệp chế tạo.
Thứ hai, cần lựa chọn một số lĩnh vực trọng điểm, tránh hợp tác dàn trải. Tôi cho rằng Việt Nam và Hàn Quốc nên tập trung trước hết vào khoảng 5-7 nhóm công nghệ mà Hàn Quốc có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu phát triển rất lớn, như bán dẫn và vi mạch; trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn; công nghệ sinh học; robot và sản xuất thông minh; vật liệu mới; năng lượng sạch; công nghệ số và hạ tầng thông minh.
Thứ ba, phải coi phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết. Chúng ta có thể mua máy móc, mua dây chuyền, thậm chí mua một số công nghệ nhưng nếu không có con người đủ năng lực tiếp nhận, cải tiến và sáng tạo thì rất khó có thể thực sự làm chủ công nghệ. Đây là lĩnh vực Hàn Quốc có thể hỗ trợ Việt Nam rất hiệu quả.
Thứ tư, cần biến VKIST thành một trung tâm thực sự của hệ sinh thái khoa học-công nghệ Việt-Hàn. Hai nước đã thống nhất tăng cường năng lực và vai trò của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc (VKIST), coi đây là một cứ điểm hợp tác khoa học-công nghệ giữa hai quốc gia; phía Hàn Quốc cũng tiếp tục hỗ trợ Việt Nam triển khai giai đoạn tiếp theo của VKIST.
Thứ năm, phải đưa doanh nghiệp vào trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một hạn chế phổ biến trong hợp tác khoa học-công nghệ là đôi khi trường đại học nghiên cứu một hướng, viện nghiên cứu đi một hướng và doanh nghiệp lại cần một hướng khác. Chúng ta phải kết nối ba nhà: “Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp”. Hợp tác khoa học-công nghệ chỉ thực sự thành công khi tri thức đi được từ phòng thí nghiệm tới nhà máy và từ nhà máy đi được ra thị trường.
Thứ sáu, cần phát huy mạnh mẽ nguồn lực trí thức Việt Nam tại Hàn Quốc và chuyên gia-tri thức Hàn Quốc yêu mến Việt Nam. Từ thực tiễn hoạt động với cộng đồng chuyên gia, trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, tôi thấy đây là một nguồn lực rất lớn nhưng chúng ta vẫn chưa khai thác hết. Hàn Quốc hiện có nhiều giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia người Việt Nam và những người Hàn Quốc yêu mến Việt Nam đang làm việc trong các trường đại học, viện nghiên cứu và tập đoàn công nghệ. Họ hiểu công nghệ Hàn Quốc, hiểu văn hóa và cách làm việc của Hàn Quốc, đồng thời hiểu nhu cầu phát triển của Việt Nam. Đây chính là những “cầu nối công nghệ” tự nhiên giữa hai nước.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất là Việt Nam phải nâng cao năng lực nội sinh. Hợp tác quốc tế rất quan trọng, nhưng không quốc gia nào có thể trở thành cường quốc khoa học-công nghệ chỉ bằng việc nhận chuyển giao. Chuyển giao công nghệ chỉ có giá trị lâu dài khi bên nhận có đủ năng lực để tiếp nhận-hấp thụ-cải tiến- sáng tạo và cuối cùng tự làm chủ. Vì vậy, hợp tác khoa học-công nghệ Việt Nam-Hàn Quốc phải được đặt trong một tầm nhìn lớn hơn: Hàn Quốc không chỉ chuyển giao những gì họ đang có, mà hai nước cùng nghiên cứu những gì thế giới sẽ cần trong tương lai.
Tôi kỳ vọng trong 10-20 năm tới, khi nói về quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc, bên cạnh những con số về thương mại và đầu tư, chúng ta sẽ có thể nói về những con chip được cùng thiết kế, những công nghệ AI được cùng phát triển, những bằng sáng chế mang tên nhà khoa học hai nước, những startup Việt-Hàn vươn ra thị trường toàn cầu và một thế hệ kỹ sư, nhà khoa học Việt Nam đủ sức tham gia vào những tầng cao nhất của chuỗi giá trị công nghệ thế giới.
Theo tôi, hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc trong kỷ nguyên mới phải chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang cùng phát triển công nghệ; từ thu hút vốn sang thu hút tri thức; từ gia công, sản xuất sang nghiên cứu, thiết kế và sáng tạo; từ hợp tác theo từng dự án sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chung. Khi làm được điều đó, khoa học-công nghệ sẽ không chỉ là một lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc, mà thực sự trở thành một trụ cột chiến lược, một động lực tăng trưởng mới và một cây cầu đưa hai quốc gia cùng kiến tạo tương lai.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Trần Hải Linh!
