Tên lửa Cheongung-II thực chiến tại UAE đánh chặn 96% tên lửa Iran, thay đổi cục diện Trung Đông

Tên lửa Cheongung-II Hàn Quốc lần đầu thực chiến tại UAE, đạt tỷ lệ đánh chặn 96% trước tên lửa Iran, giá rẻ hơn Patriot nhưng hiệu suất vượt trội, đang thay đổi cục diện phòng không Trung Đông.

Trong bối cảnh tác chiến hiện đại ngày càng phức tạp với mối đe dọa từ tên lửa đạn đạo, hệ thống tên lửa phòng không Cheongung-II (hay còn gọi là M-SAM Block II, KM-SAM Block II) của Hàn Quốc đã nổi lên như một lực lượng đáng gờm khi đạt tỷ lệ đánh chặn lên đến 96% trong lần sử dụng thực chiến đầu tiên tại UAE chống lại tên lửa Iran.

Thành tựu này không chỉ khẳng định sức mạnh công nghệ quốc phòng Hàn Quốc mà còn định vị tên lửa Cheongung-II như một giải pháp phòng không tầm trung hiệu quả về chi phí, kết hợp hoàn hảo giữa nền tảng kỹ thuật Nga và sáng tạo nội địa, mang lại độ tin cậy và chính xác vượt trội.

Hệ thống tên lửa phòng không Cheongung-II chứng minh hiệu quả chống tên lửa đạn đạo Iran. Ảnh chụp màn hình/unian.net

Hệ thống tên lửa phòng không Cheongung-II chứng minh hiệu quả chống tên lửa đạn đạo Iran. Ảnh chụp màn hình/unian.net

Tên lửa Cheongung-II là hệ thống tên lửa phòng không tầm trung do Cơ quan Phát triển Quốc phòng Hàn Quốc (ADD) phối hợp phát triển cùng các tập đoàn lớn như LIG Nex1 và Hanwha Aerospace.

Ban đầu nhận hỗ trợ kỹ thuật từ Nga (Almaz-Antey và Fakel) dựa trên công nghệ tên lửa 9M96 của S-350 và S-400, nhưng hệ thống đã được nội địa hóa hoàn toàn, cho phép Hàn Quốc xuất khẩu độc lập mà không bị ràng buộc bởi các lệnh trừng phạt quốc tế.

Thiết kế kết hợp cơ chế phóng lạnh kiểu Nga (tên lửa được đẩy ra khỏi ống phóng bằng khí nén trước khi động cơ chính khởi động) với radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) kiểu phương Tây.

Một khẩu đội điển hình bao gồm xe radar đa chức năng băng tần X gắn trên xe tải với tầm phát hiện mục tiêu lên đến 100km, có khả năng theo dõi đồng thời 40 mục tiêu; xe chỉ huy kiểm soát hỏa lực và 4-6 bệ phóng di động, mỗi bệ mang 8 tên lửa đánh chặn.

Cấu hình này đảm bảo tính cơ động cao, triển khai nhanh trong vài phút, phù hợp với địa hình đa dạng từ sa mạc đến đô thị.

Xe radar đa chức năng, bệ phóng thẳng đứng và xe trung tâm chỉ huy của M-SAM. Ảnh: wikipedia.org

Xe radar đa chức năng, bệ phóng thẳng đứng và xe trung tâm chỉ huy của M-SAM. Ảnh: wikipedia.org

Về thông số kỹ thuật c, tên lửa Cheongung-II có khối lượng khoảng 400kg, chiều dài 4,61m, đường kính 27,5cm.

Động cơ tên lửa nhiên liệu rắn đẩy tên lửa đạt tốc độ Mach 4.5 đến Mach 5, cho phép phản ứng nhanh chóng với các mối đe dọa tốc độ cao.

Phạm vi hoạt động của phiên bản Block II đạt 50km (tăng từ 40km ở Block I), trần bay lên đến 20km (tăng từ 15km).

Hệ thống dẫn đường sử dụng quán tính kết hợp cập nhật dữ liệu giữa đường bay qua liên kết dữ liệu, chuyển sang dẫn đường radar chủ động ở giai đoạn cuối để đánh chặn chính xác.

Cơ chế tiêu diệt là "hit-to-kill", va chạm trực tiếp bằng động năng thay vì mảnh nổ, rất hiệu quả chống tên lửa đạn đạo tốc độ cao, đồng thời có thể trang bị đầu đạn nổ mảnh gần để đối phó máy bay hoặc tên lửa hành trình.

Ảnh: Yonhap News

Ảnh: Yonhap News

Các tính năng nâng cao như theo dõi bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và phát hiện mục tiêu tầm thấp giúp hệ thống chống chịu tốt các đợt tấn công bão hòa hoặc mục tiêu cơ động, hoạt động ổn định trong điều kiện khắc nghiệt như sa mạc 50 độ C, như đã chứng minh tại UAE.

So sánh với các đối thủ cùng phân khúc tầm trung, tên lửa Cheongung-II nổi bật nhờ sự cân bằng giữa hiệu suất, chi phí và độ tin cậy đã được kiểm chứng thực chiến.

So với MIM-104 Patriot PAC-3 của Mỹ (phạm vi trên 120km với biến thể MSE, trần bay cao hơn), Cheongung-II có độ chính xác hit-to-kill tương đương nhưng giá thành chỉ bằng một phần (khoảng 200-300 triệu USD mỗi khẩu đội so với hơn 700 triệu USD của Patriot), dễ tiếp cận hơn cho các quốc gia hạn chế ngân sách.

Trong khi tỷ lệ đánh chặn lịch sử của Patriot khoảng 80-90%, Cheongung-II đạt 96% trong thực chiến nhờ tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và giao diện thân thiện, đào tạo nhanh mà không cần chuyên gia cao cấp.

So với S-400 của Nga (phạm vi lên đến 400km với một số tên lửa, phòng thủ đa tầng), Cheongung-II tránh rủi ro như trừng phạt, chi phí thấp hơn (khoảng 320 triệu USD mỗi đơn vị) và sử dụng công nghệ phóng lạnh tương tự, thậm chí vượt trội ở thị trường xuất khẩu như Iraq nhờ độ tin cậy và giá cả cạnh tranh.

Tên lửa phòng không Cheongung-II. Ảnh nguồn mở/militarnyi.com

Tên lửa phòng không Cheongung-II. Ảnh nguồn mở/militarnyi.com

Hệ thống CAMM-ER của châu Âu (phạm vi 45km) linh hoạt nhưng chưa có kiểm chứng đánh chặn đạn đạo trong môi trường khắc nghiệt.

SPYDER-MR của Israel tương đương về tính cơ động và phạm vi 40km nhưng kém hơn ở khả năng xử lý đồng thời nhiều mục tiêu.

NASAMS của Na Uy ưu tiên chống máy bay và tên lửa hành trình hơn là chống đạn đạo mạnh mẽ.

IRIS-T SLM của Đức (phạm vi 40km) tập trung vào hoạt động mạng lưới nhưng chưa đạt được mức kiểm chứng thực chiến và hiệu quả chi phí như Cheongung-II.

Xét tổng thể, điểm mạnh của tên lửa Cheongung-II nằm ở thiết kế kinh tế nhưng công nghệ cao, kết hợp ưu điểm toàn cầu mà tránh nhược điểm phụ thuộc hoặc giá đắt đỏ.

Với kế hoạch nâng cấp Block III nhắm đến phạm vi 100-150km và radar AESA cải tiến vào năm 2034, tên lửa Cheongung-II đang sẵn sàng tiến hóa thêm, củng cố vị thế trong mạng lưới phòng không và tên lửa tích hợp.

Thành công của hệ thống này đánh dấu sự chuyển dịch sang các công nghệ linh hoạt, giá phải chăng, giúp phổ cập khả năng bảo vệ tiên tiến, có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định mua sắm quốc phòng ở Trung Đông và nhiều khu vực khác trên thế giới.

Đào Cảnh

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/ten-lua-cheongung-ii-danh-chan-96-ten-lua-iran-thay-doi-phong-khong-trung-dong-2495676.html