Thách thức kép trong quản trị trí tuệ nhân tạo

Từ chỗ là AI công cụ theo lệnh (1956), đến AI công cụ biết suy đoán (2007) rồi AI tạo sinh (Generative AI, 2014) và hiện nay biết tự hành động, ra quyết định sau khi nhận yêu cầu (AI tác nhân, Agentic AI, 2023), AI ngày càng tác động trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực, chi phối hầu như tất cả các mặt cuộc sống của loài người, đặt ra cho tất cả các quốc gia môt nhiệm vụ mới: giải quyết thách thức kép trong quản trị AI. Bài viết này làm rõ nội hàm của thách thức kép từ trường hợp Việt Nam và đề xuât những việc cần làm để đáp ứng tốt nhất có thể thách thức này.

TỪ VĂN BẢN ĐẾN HIỆN THỰC: THÁCH THỨC NỘI TẠI

Đảng Cộng sản Việt nam và Nhà nước Việt Nam chủ trương và chỉ đao phát triển triển công nghệ AI tác nhân ngay từ lúc nó phát sinh. Hệ thống pháp luật về AI bắt đầu được xây dựng ngay từ năm 2023. Tính đến tháng 9.2026 đã ban hành 17 văn bản pháp quy: nhóm Nền tảng và cốt lõi có 6 luật, nhóm Chuyên AI có7 nghị đinh, quyết định và thông tư, và nhóm Liên ngành liên quan tới AI có 4 luật và nghị định.

Sau ba năm hình thành khung pháp lý (KPL) đã bước đầu thể hiện triết lý và mục tiêu:chủ động và tích cực phát triển AI; giữ vững độc lập chủ quyền số quốc gia để phát triển; góp phần vào đa cực hóa quản trị AI trên thế giới; trọng tâm chiến lược: cân bằng giữa việc quản lý rủi ro và thúc đẩy mạnh mẽ “tự chủ AI”, bảo đảm “chủ quyền AI quốc gia”; và nguyên tắc lấy con người làm trung tâm: đặt sự an toàn, quyền riêng tư và quyền con người lên hàng đầu, đồng thời quy định con người phải luôn có khả năng can thiệp hoặc kiểm soát hệ thống AI.

KPL đã có nhưng khả năng thực thi đúng và trúng ra sao và giải quyết các tác động lên các mặt của cuộc sống, kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng có lợi nhất là một thách thức lớn mà việc vượt qua có ý nghĩa quyết định thành công của chủ trương.

Giá trị quản trị của KPL tương ứng với thời đoạn trong đó AI chưa có biến đổi quan trọng. Trên thực tế AI lại biến động rẩt nhanh so với thời gian ban hành luật pháp và đi vào thực thi. Do đó sự am tường về AI, sự nhạy bén của bộ máy nhà nước nắm bắt thời điểm ra đời của những AI mới hoặc nâng cao, cải tiến để KPL không lạc hậu trong công tác quản trị là một thách thức nội tại không nhỏ. Nội tại là vì nắm bắt và chuyển hóa vào KPL tùy thuộc vào năng lực của nước đó.

MIỀN AI MÀ KPL XỬ LÝ CHỦ YẾU ĐẾN TỪ BÊN NGOÀI: THÁCH THỨC TỪ BÊN NGOÀI

Một lý do khiến “miền AI” (là tập hợp các AI mà KPL quốc gia quy định) biến động nhanh là vì qua hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế, các AI chảy vào một quốc gia rất nhanh và đa dạng về nguồn, về lĩnh vực, mới hoặc nâng cao và thời điểm. Miền AI rất biến động, tiếp nhận những AI mới, đào thải những AI đã lỗi thời.

Các AI du nhập vào phần lớn là sản phẩm của Big Tech. Nhóm các tập đoàn, công ty công nghệ số lớn nhất này cạnh tranh nhau, quyết định hướng phát triển, thời điểm cho ra đời các AI mới tùy theo lợi ích của họ. Trong bối cảnh đó, mô hình quản trị AI của các nước và nhóm nước đã được hình thành.

Kể cả những “sảy chân” của họ, như sự cố AI thử nghiệm “xổng chuồng” tại OpenAI và Anthropic giữa năm 2026, cũng chi phối mô hình quản trị AI của các nước. Hai vụ AI “xổng chuồng” xảy ra tại OpenAI và tại Anthropic vào giữa năm 2026 là một minh chứng. Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Ấn Độ đã phải điều chỉnh ngay mô hình quản trị AI của mình. Các biện pháp như cơ chế "kill switch" xuyên biên giới, bắt buộc kiểm toán cách ly vật lý (air-gapped isolation) đối với mọi môi trường Sandbox thử nghiệm đã được quyết định áp dụng. Nhiều nước chuyển từ "luật mềm" sang "luật cứng", sửa đổi Chiến lược AI quốc gia, Luật phát triển AI sớm lên.

Thỏa thuận Nhà Trắng về Siêu trí tuệ (WHA_SI) ký kết ngày 29.9.2026 và Sắc lệnh hành pháp 14434 của Nhà Trắng về việc sử dụng “siêu trí tuệ” (SI) thay AI trong chính quyền Hoa Kỳ là những ví dụ khác. WHA_SI tuy chỉ là là thỏa thuận tự nguyện, không có hiệu lực pháp lý ràng buộc, chỉ mang tính “ràng buộc về mặt đạo đức”, song ngoài mục đích chung là trấn an dư luận, qua đó Mỹ muốn duy trì lợi thế cạnh tranh. Còn Sắc lệnh hành pháp thể hiện ý đồ củng cố vị thế bá chủ của Mỹ trong lĩnh vực.

Tốc độ cập nhật kịp thời và đầy đủ KPL quản trị AI rõ ràng là một thách thức đến từ bên ngoài trong quản trị AI đối với các quốc gia.

THÁCH THỨC KÉP TRONG QUẢN TRỊ AI

Thách thức nội tại và thách thức từ bên ngoài trong quản trị AI không biệt lập mà có quan hệ với nhau. Nắm bắt nhanh, đầy đủ các biến động AI từ bên ngoài và hệ lụy, phản ứng của các quốc gia, sẽ giúp cập nhật các nội dung mà KPL cần kịp thời sửa đổi bổ sung.

Khả năng giải quyết các thách thức nội tại tốt sẽ giúp Nhà nước điều chỉnh sát hợp hơn mô hình quản trị AI, tiếp nhận các AI trong những lĩnh vực mới và hội nhập quốc tế về AI tốt hơn để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Nói cách khác, thách thức nội tại và thách thức từ bên ngoài là hai mặt hợp thành thách thức kép đối với Nhà nước, nhất là Nhà nước các quốc gia phương Nam (Global South), trong quản trị AI để phát triển đất nước nhanh và an toàn.

ĐỀ XUẤT

Từ phân tích trên đây, để giải quyết tốt thách thức kép trong quản trị AI, Việt Nam cần:

Theo dõi mô hình quản trị của các nước có ích cho mô hình của Việt Nam. Trước mắt chắt lọc từ các phản ứng của các nước sau sự cố “xổng chuồng” tháng 7.2026 các chính sách mà Việt Nam cần tham khảo. Theo tác giả đó là: (1) không thể chỉ dựa vào “luật mềm” (Soft Law); (2) kiểm tra hạ tầng sandbox, thay vì chỉ kiểm tra mô hình; (3) xây dựng cơ chế phản ứng nhanh và phòng thủ chủ động; (4) bảo đảm chủ quyền công nghệ và đa dạng hóa nguồn cung; (5) yêu cầu gắn nhãn và truy xuất nguồn gốc nội dung AI; (6) cập nhật chiến lược AI linh hoạt và nhanh chóng.

Nhanh chóng ban hành các văn bản pháp quy giai đoạn Quý 4 2026 – 2028 theo 4 nhóm chủ đề: (1) Quản lý rủi ro phải bắt đầu từ kiểm soát hạ tầng; (2) Bảo vệ dữ liệu, kiểm soát nội dung AI và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật; (3) Giữ vững chủ quyền AI, xác định rõ trách nhiệm pháp lý; (4) Bảo đảm quyền quyết định của con người, bảo vệ người lao động trước AI, thúc đẩy AI phát triển có trách nhiệm.

(*) GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc Hội. đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI.

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân*

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/thach-thuc-kep-trong-quan-tri-tri-tue-nhan-tao.htm