Thẩm quyền và cách thức xác định khu vực bỏ phiếu
Bạn đọc hỏi: Việc xác định khu vực bỏ phiếu do đơn vị nào quyết định và mỗi khu vực bỏ phiếu có quy mô khoảng bao nhiêu cử tri?

Tổ bầu cử số 9, phường Bồ Đề (Hà Nội) kiểm tra phiếu bầu phục vụ cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Về việc này, báo Tin ức và Dân tộc xin trả lời như sau:
Cách thức xác định khu vực bỏ phiếu
Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (Luật Bầu cử), việc xác định khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã quyết định và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, UBND cấp tỉnh có thể điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu. Việc xác định khu vực bỏ phiếu được thực hiện trước khi thành lập Tổ bầu cử.
Cách thức thực hiện việc xác định khu vực bỏ phiếu được quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 21/2025/TT-BNV như sau: UBND cấp xã căn cứ số lượng cử tri, đặc điểm địa hình, việc phân bố dân cư trên địa bàn để xác định các khu vực bỏ phiếu cho phù hợp và báo cáo UBND cấp tỉnh, trong đó mỗi khu vực bỏ phiếu bao gồm một hoặc một số thôn, tổ dân phố hợp thành.
Trường hợp thôn, tổ dân phố có số lượng cử tri quá đông hoặc do địa bàn rộng lớn, bị chia cắt, việc phân bố dân cư không tập trung thì có thể chia thôn, tổ dân phố thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Việc phân chia thôn, tổ dân phố thành nhiều khu vực bỏ phiếu phải bảo đảm thuận lợi cho việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các tổ chức phụ trách bầu cử và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là trong thực hiện công tác bầu cử của Tổ bầu cử.
Khu vực bỏ phiếu: Quy mô, cách xác định và trường hợp đặc biệt
Việc xác định khu vực bỏ phiếu phải đáp ứng quy mô, cách xác định theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 Luật Bầu cử, cụ thể:
Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được chia thành các khu vực bỏ phiếu. Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm (300) đến bốn nghìn (4.000) cử tri. Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có đủ ba trăm cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Các trường hợp có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng được quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Bầu cử, bao gồm:
Đơn vị vũ trang nhân dân.
Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc người cao tuổi có từ năm mươi cử tri trở lên.
Cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, trại tạm giam.











