Thanh Hóa: Chấn chỉnh việc thu hồi khoáng sản từ hoạt động cải tạo, xây dựng công trình trên đất ở
Sở Công thương Thanh Hóa vừa đề nghị UBND các xã, phường trên địa bàn tăng cường công tác quản lý nhà nước về thu hồi khoáng sản từ hoạt động cải tạo, xây dựng công trình trên đất ở, đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.
Thời gian qua, một số địa phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã tiếp nhận, giải quyết và cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản đất làm vật liệu san lấp cho các hộ gia đình từ hoạt động cải tạo đất ở, đất nông nghiệp để xây dựng công trình nhà ở, tạo điều kiện cho các hộ dân có mặt bằng xây dựng nhà ở.

Người sử dụng đất chỉ được thu hồi khoáng sản khi bắt buộc phải san gạt, đào đắp bề mặt địa hình tạo mặt bằng xây dựng các hạng mục công trình đó (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 75 Luật Địa chất và khoáng sản 2024).
Tuy nhiên, tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng hộ gia đình, cá nhân lợi dụng việc “hạ thấp độ cao”, “hạ cốt nền”, “san gạt cải tạo mặt bằng” đất ở, đất nông nghiệp để vận chuyển đất đi tiêu thụ, thực chất là khai thác khoáng sản trái phép. Một số hồ sơ được thẩm định chưa chặt chẽ, khối lượng và mức sâu thu hồi được xác nhận vượt quá nhu cầu san gạt tạo mặt bằng của công trình. Việc giám sát sau khi cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản chưa thường xuyên, dẫn đến gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách, làm biến dạng địa hình, ảnh hưởng đến hạ tầng, môi trường và an toàn công trình lân cận.
Nhằm tiếp tục chấn chỉnh tình trạng trên, Sở Công Thương Thanh Hóa đã đề nghị UBND các xã, phường tập trung thực hiện một số nội dung, như:
Người sử dụng đất chỉ được thu hồi khoáng sản khi bắt buộc phải san gạt, đào đắp bề mặt địa hình tạo mặt bằng xây dựng các hạng mục của công trình đó (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 75 Luật Địa chất và khoáng sản). Việc thu hồi khoáng sản là hệ quả phát sinh của việc thi công công trình, không phải là mục đích của hoạt động cải tạo.
Hoạt động cải tạo, xây dựng công trình trên đất ở, đất nông nghiệp chỉ được thực hiện khi được phép cải tạo, xây dựng theo quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng (quy định tại Điều 96 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung tại khoản 35 Điều 1 Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026).
Không xem xét xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản đối với các trường hợp sau: Hạ thấp cao độ, san gạt thửa đất mà không gắn với công trình, hạng mục công trình xây dựng cụ thể; hạ cốt nền thấp hơn cao độ thiết kế của công trình, thấp hơn cao độ nền khu dân cư, đường giao thông liền kề hoặc cao độ theo quy hoạch được duyệt, có nguy cơ gây ngập úng, sạt lở, mất an toàn công trình lân cận; cải tạo đất nông nghiệp làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, có dấu hiệu hủy hoại đất theo quy định của pháp luật về đất đai; thửa đất nằm trong khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, hành lang bảo vệ công trình giao thông, thủy lợi, đê điều, di tích, hoặc đang có tranh chấp; khối lượng đăng ký thu hồi không tương xứng với quy mô hạng mục công trình xây dựng.
Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần kiểm tra chặt chẽ hồ sơ đề nghị và tăng cường giám sát sau xác nhận. Trong đó, tiếp nhận và xử lý hồ sơ đảm bảo theo quy định tại điểm c, khoản 1, khoản 2 Điều 98 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Tổ chức cắm mốc giới, bàn giao mốc ngoài thực địa trước khi thu hồi; công khai nội dung giấy xác nhận tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố và tại khu vực thu hồi để nhân dân giám sát; giao phòng chuyên môn trực tiếp theo dõi, giám sát hoạt động thu hồi theo quy định tại Điều 96 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung tại khoản 35 Điều 1 Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026; kiểm tra phạm vi, mức sâu, khối lượng, phương tiện vận chuyển; khi phát hiện đào vượt ranh giới, vượt mức sâu, vượt khối lượng hoặc quá thời hạn phải lập biên bản, yêu cầu dừng ngay và xử lý theo quy định.
Yêu cầu người thu hồi khoáng sản thống kê khối lượng thực tế, báo cáo định kỳ, kê khai, nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường; thực hiện quyết toán tiền cấp quyền khai thác khoáng sản sau khi giấy xác nhận hết hiệu lực; phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi khai thác vượt khối lượng, vượt phạm vi, hành vi sử dụng khoáng sản sai mục đích.
Ngoài ra, các xã phường phải rà soát toàn bộ các giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản đã cấp từ ngày 01/7/2025 đến nay; trường hợp xác nhận không đúng quy định, vượt khối lượng, mức sâu thì xử lý theo thẩm quyền và báo cáo kết quả về Sở Công Thương.
Chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời hoạt động đào, xúc, vận chuyển đất không có giấy xác nhận hoặc thực hiện không đúng giấy xác nhận; xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 36/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP và Nghị định số 290/2025/NĐ-CP; áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp. Trường hợp vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay cấp có thẩm quyền để được xem xét theo quy định. Phối hợp chặt chẽ với Công an xã, phường, cơ quan thuế và các đơn vị liên quan trong kiểm tra, xử lý; công khai số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của nhân dân.
Chủ tịch UBND các xã, phường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh nếu để xảy ra tình trạng lợi dụng việc “hạ thấp độ cao”, “hạ cốt nền”, “san gạt cải tạo mặt bằng” đất ở, đất nông nghiệp để khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn mà không kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý.
Việc tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động trên cho thấy tỉnh Thanh Hóa đang rất quyết tâm thực hiện việc cấp giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản cũng như công tác quản lý sau cấp giấy xác nhận. Tất cả đều phải tuân thủ theo đúng quy định của Luật Địa chất và khoáng sản 2024 và Nghị định 193/2025/NĐ-CP. Qua đó góp phần bảo vệ tốt hơn nữa môi trường trên địa bàn, chống thất thoát nguồn tài nguyên, khoáng sản và ngân sách nhà nước.

